Đọc sách cùng trung tâm

Tội phạm về ma túy được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015

Bộ luật Hình sự số 100⁄2015⁄QH13 được Quốc hội khóa 13 thông qua ngày 27⁄11⁄2015; đã được Quốc hội khóa 14 sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12⁄2017⁄QH14 thông qua ngày 20⁄6⁄2017 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự 2015) có hiệu lực thi hành từ ngày 01⁄01⁄2018. Trong đó, từ Điều 247 đến Điều 259, quy định các tội về ma túy như sau:


Điều 247. Tội trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy

1. Người nào trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã được giáo dục 02 lần và đã được tạo điều kiện ổn định cuộc sống;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Với số lượng từ 500 cây đến dưới 3.000 cây.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;                                                 

b) Với số lượng 3.000 cây trở lên;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

4. Người nào phạm tội thuộc khoản 1 Điều này, nhưng đã tự nguyện phá bỏ, giao nộp cho cơ quan chức năng có thẩm quyền trước khi thu hoạch, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

Điều 248. Tội sản xuất trái phép chất ma túy

1. Người nào sản xuất trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;

e) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 200 mililít;

i) Tái phạm nguy hiểm;

k) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm đ đến điểm h khoản này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

d) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;

đ) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 200 mililít đến dưới 750 mililít;

e) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm đ khoản này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;

c) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;

d) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;

đ) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm d khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;

e) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;

g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

h) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

i) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;

k) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

l) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

m) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít;

n) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này;

o) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 75 kilôgam trở lên;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 250. Tội vận chuyển trái phép chất ma túy

1. Người nào vận chuyển trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 249, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;

e) Qua biên giới;

g) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;

h) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

i) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

k) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;

l) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

m) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

n) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít;

o) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm g đến điểm n khoản này;

p) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 75 kilôgam trở lên;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

đ) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho người dưới 16 tuổi;

g) Qua biên giới;

h) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;

i) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

k) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

l) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;

m) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

n) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

o) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít;

p) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này;

q) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 75 kilôgam trở lên;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 252. Tội chiếm đoạt chất ma túy

1. Người nào chiếm đoạt chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 249, 250 và 251 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;

e) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;

g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

h) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

i) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;

k) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

l) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

m) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít;

n) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này;

o) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 75 kilôgam trở lên;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 253. Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 06 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Tiền chất ở thể rắn có khối lượng từ 50 gam đến dưới 200 gam;

c) Tiền chất ở thể lỏng có thể tích từ 75 mililít đến dưới 300 mililít.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 năm đến 13 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Tiền chất ở thể rắn có khối lượng từ 200 gam đến dưới 500 gam;

e) Tiền chất ở thể lỏng có thể tích từ 300 mililít đến dưới 750 mililít;

g) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;

h) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 13 năm đến 20 năm:

a) Tiền chất ở thể rắn có khối lượng từ 500 gam đến dưới 1.200 gam;

b) Tiền chất ở thể lỏng có thể tích từ 750 mililít đến dưới 1.800 mililít.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Tiền chất ở thể rắn có khối lượng 1.200 gam trở lên;

b) Tiền chất ở thể lỏng có thể tích 1.800 mililít trở lên.

5. Trường hợp phạm tội có cả tiền chất ở thể rắn và tiền chất ở thể lỏng thì được quy đổi để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự, với tỷ lệ 01 gam tiền chất ở thể rắn tương đương với 1,5 mililít tiền chất ở thể lỏng. Sau khi quy đổi, số lượng tiền chất thuộc khoản nào, thì người thực hiện hành vi phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản đó.

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 254. Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Có số lượng từ 06 đơn vị đến 19 đơn vị dụng cụ, phương tiện cùng loại hoặc khác loại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Có số lượng 20 đơn vị dụng cụ, phương tiện cùng loại hoặc khác loại trở lên;

e) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

g) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;

d) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

đ) Đối với người đang cai nghiện;

e) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

g) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên;

d) Đối với người dưới 13 tuổi.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

b) Làm chết 02 người trở lên.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 256. Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với người dưới 16 tuổi;

d) Đối với 02 người trở lên;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 257. Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của người khác để buộc họ phải sử dụng trái phép chất ma túy trái với ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Vì động cơ đê hèn hoặc vì tư lợi;

d) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;

đ) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

e) Đối với 02 người trở lên;

g) Đối với người đang cai nghiện;

h) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

i) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

k) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người;

b) Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên;

c) Đối với người dưới 13 tuổi.

4. Phạm tội trong trường hợp làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Điều 258. Tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào rủ rê, dụ dỗ, xúi giục hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Vì động cơ đê hèn hoặc vì tư lợi;

d) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;

đ) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

e) Đối với 02 người trở lên;

g) Đối với người đang cai nghiện;

h) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

i) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

k) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây chết người;

b) Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên;

c) Đối với người dưới 13 tuổi.

4. Phạm tội trong trường hợp gây chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Điều 259. Tội vi phạm quy định về quản lý chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần

1. Người nào có trách nhiệm trong quản lý chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần mà thực hiện một trong các hành vi sau đây, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XX của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Vi phạm quy định về xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, quá cảnh chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện hoặc thuốc hướng thần;

b) Vi phạm quy định về nghiên cứu, giám định, sản xuất, bảo quản chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện hoặc thuốc hướng thần;

c) Vi phạm quy định về giao nhận, vận chuyển chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện hoặc thuốc hướng thần;

d) Vi phạm quy định về phân phối, mua bán, trao đổi chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện hoặc thuốc hướng thần;

đ) Vi phạm quy định về quản lý, kiểm soát, lưu giữ chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện hoặc thuốc hướng thần tại khu vực cửa khẩu, khu vực biên giới, trên biển;

e) Vi phạm quy định về cấp phát, cho phép sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện hoặc thuốc hướng thần.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

HH

 

Người sử dụng ma túy lần đầu sẽ bị quản lý tại nhà trong 1 năm

TTO - Đó là điểm mới nổi bật trong Luật phòng chống ma túy năm 2021, việc quản lý được áp dụng ngay lần đầu phát hiện người sử dụng ma túy với mục đích hạn chế gia tăng người nghiện, giảm "nguồn cầu" về ma túy, cũng như các loại tội phạm.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Viện, cục trưởng C04, thông tin tại hội nghị - Ảnh: THÂN HOÀNG

Ngày 24-12, Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (C04), Bộ Công an tổ chức hội nghị cung cấp thông tin về Luật phòng, chống ma túy năm 2021.

Thiếu tướng Nguyễn Văn Viện, cục trưởng C04, cho biết thời gian vừa qua lực lượng chức năng đã quyết liệt triển khai nhiều kế hoạch, phương án phòng, chống tội phạm ma túy.

Tuy nhiên, tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, là một nguy cơ an ninh phi truyền thống mang tính xuyên quốc gia. Ma túy thẩm lậu từ nước ngoài vào trong nước rất lớn, song chưa ngăn chặn ngay từ khu vực biên giới. Nước ta đứng trước nguy cơ trở thành địa bàn trung chuyển ma túy quốc tế.

Theo cục trưởng C04, Luật phòng, chống ma túy và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính vừa được Quốc hội thông qua đã khắc phục được khó khăn, vướng mắc liên quan đến công tác phòng, chống ma túy, đặc biệt là công tác cai nghiện, đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật.

"Quy định của luật sát với thực tiễn, giúp cho công tác cai nghiện có hiệu quả, qua đó giảm nguồn "cầu" về ma túy" - thiếu tướng Viện nói.

Người sử dụng ma túy ngày càng gia tăng

Theo thống kê của Bộ Công an, tình hình người sử dụng trái phép chất ma túy ngày càng gia tăng. Cụ thể, năm 2017 phát hiện hơn 128.000 người, năm 2018 phát hiện hơn 135.000 người, năm 2019 phát hiện hơn 143.000 người sử dụng trái phép chất ma túy.

Riêng năm 2020, do tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, các lực lượng dồn sức chống dịch, nhiều địa phương áp dụng giãn cách, các dịch vụ không thiết yếu như quán bar, vũ trường, karaoke, khách sạn không được hoạt động nên số lượng người sử dụng ma túy mới bị phát hiện tăng không đáng kể.

Tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, Người sử dụng trái phép chất ma túy ngày càng gia tăng - Ảnh: C04 cung cấp

"Hình thức, địa điểm sử dụng đã thay đổi nhiều so với trước đây, người sử dụng ngày càng trẻ hóa và sử dụng ma túy tổng hợp ngày càng gia tăng. Nhiều đối tượng sử dụng ma túy tổng hợp "ngáo đá" gây ra các vụ thảm án đặc biệt nghiêm trọng, gây bất an, bức xúc trong nhân dân.

Trong khi đó, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định hiện hành chỉ bị xử phạt hành chính cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000-1.000.000 đồng nên không đủ sức răn đe, ngoài ra, không có biện pháp quản lý nào khác", thiếu tướng Viện chia sẻ.

Quản lý người sử dụng ma túy lần đầu để giảm ‘nguồn cầu’

Theo thiếu tướng Viện, vấn đề quản lý người sử dụng ma túy ngay từ lần đầu đã được đưa vào Luật phòng, chống ma túy năm 2021.

Đây là biện pháp phòng ngừa nhằm giúp người sử dụng trái phép chất ma túy không tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật của họ. Thời hạn quản lý là 1 năm kể từ ngày có quyết định quản lý của chủ tịch UBND cấp xã.

"Nhiều trường hợp sử dụng ma túy tổng hợp dẫn đến ngáo đá và gây ra các vụ thảm án nghiêm trọng khiến người dân sợ hãi. Trong khi đó, hành vi sử dụng ma túy chỉ bị xử phạt hành chính cao nhất 1 triệu đồng nên không đủ sức răn đe. Bởi thế việc đổi mới này nhằm đáp ứng nhu cầu quản lý chặt người sử dụng trái phép chất ma tuý, từ đó làm giảm tỉ lệ người nghiện, giảm "nguồn cầu" về ma túy" - cục trưởng C04 phân tích.

Thiếu tượng Viện cho biết thêm, quản lý người sử dụng ma túy ngay từ lần đầu là biện pháp phòng ngừa, không phải xử phạt hành chính, nhằm giúp họ tránh xa ma túy. Công an cấp xã giúp UBND cùng cấp lập danh sách và chủ trì quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy cư trú tại địa phương.

Khoản 1 điều 22 của luật mới quy định, trường hợp phải xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể là người bị phát hiện sử dụng ma túy hoặc đang cai nghiện và người mà bị cơ quan chức năng có căn cứ cho rằng đang sử dụng ma túy. Để xác định một người thuộc trường hợp sử dụng trái phép chất ma túy hay không cần phải có kết quả xét nghiệm dương tính.

Kết quả xét nghiệm dương tính sẽ được gửi ngay đến chủ tịch UBND cấp xã nơi người đó cư trú để phục vụ việc quản lý. Nội dung quản lý gồm:

- Tư vấn, động viên, giáo dục để họ tránh xa ma túy;

- Xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể;

- Ngăn chặn người đó có hành vi gây rối trật tự.

Trung tá Hoàng Văn Hiều thông tin tại hội nghị - Ảnh: THÂN HOÀNG

Trung tá Hoàng Văn Hiều, phó trưởng Phòng 2 (C04), cho biết thêm, sau khi bị xử phạt hành chính, cơ quan chức năng sẽ lập hồ sơ quản lý đối với người sử dụng trái phép chất ma túy.

"Chủ tịch UBND cấp xã là người có thẩm quyền ra quyết định và tổ chức quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy cư trú tại địa phương. Tổ quản lý sẽ do công an cấp xã làm tổ trưởng, kết hợp với người có uy tín trong dòng họ để quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy.

Tổ quản lý sẽ phân công trực tiếp cho một người làm nhiệm vụ động viên, tuyên truyền, giáo dục để người sử dụng trái phép chất ma túy nhận thức ra tác hại của ma túy; đồng thời giám sát để kịp thời phát hiện họ có tái phạm hay không.

Trong thời gian bị quản lý, nếu người sử dụng trái phép chất ma túy tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy thì cơ quan chức năng sẽ đưa đi xác định tình trạng nghiện.

Trường hợp kết luận bị nghiện, người sử dụng trái phép chất ma túy sẽ bị áp dụng các hình thức cai nghiện theo quy định. Trường hợp không nghiện, người sử dụng trái phép chất ma túy sẽ bị quản lý thêm một năm nữa, kể từ thời điểm có kết luận", trung tá Hiều phân tích.

Theo lãnh đạo C04, việc quản lý đối với người sử dụng trái phép chất ma túy sẽ không công khai ở địa bàn cư trú, chỉ tổ công tác quản lý và gia đình người sử dụng trái phép chất ma túy biết. Trong thời gian quản lý, họ vẫn được quyền sinh hoạt, học tập và làm việc như bình thường.

Thân Hoàng

 

Người từ 12 tuổi nghiện ma túy phải đi cai nghiện bắt buộc

TTO - Hai điểm mới nổi bật trong Luật phòng chống ma túy năm 2021 là người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi sẽ bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và người sử dụng ma túy lần đầu sẽ bị quản lý tại nhà trong 1 năm.

Một thanh niên nghi “ngáo đá” leo lên xe tải dọa người đi đường ở TP.HCM - Ảnh: MINH HÒA

Thông tin trên được thiếu tướng Nguyễn Văn Viện - cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy (C04), Bộ Công an - cho biết tại hội nghị cung cấp thông tin về Luật phòng, chống ma túy năm 2021 được tổ chức vào ngày 24-12. 

Mục đích của những quy định mới này, theo cục trưởng C04 lý giải, nhằm hạn chế gia tăng người nghiện, giảm "nguồn cầu" về ma túy cũng như các loại tội phạm.

Được đảm bảo quyền lợi, đảm bảo lý lịch sạch

Theo thiếu tướng Nguyễn Văn Viện, tính đến tháng 11-2021, cả nước có hơn 246.000 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý. Tỉ lệ người nghiện tăng tự nhiên trung bình trong 5 năm gần đây là 3%/năm. 

Việc lập hồ sơ đưa người nghiện vào nơi cai nghiện bắt buộc vẫn gặp nhiều khó khăn. Nhiều vụ người sử dụng ma túy tổng hợp "ngáo đá" gây ra các vụ thảm án đặc biệt nghiêm trọng, gây bất an và bức xúc trong nhân dân.

Cục trưởng C04 cho biết Luật phòng, chống ma túy và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính vừa được Quốc hội thông qua đã khắc phục được khó khăn, vướng mắc liên quan đến công tác phòng chống ma túy, đặc biệt là công tác cai nghiện, đảm bảo tính thống nhất trong hệ thống pháp luật.

Luật mới đã quy định cụ thể về việc lập hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi. Thời gian cai nghiện bắt buộc đối với nhóm tuổi này là từ 6 - 12 tháng.

"Thẩm quyền quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc do tòa án nhân dân cấp huyện và không bị coi là xử lý vi phạm hành chính. 

Khi đưa người nghiện trên 12 tuổi đi cai nghiện bắt buộc, để các em lý lịch sạch sẽ. Quy định của luật rất nhân văn, họ chỉ bị coi là đi chữa bệnh, không để lại thông tin trong lý lịch và không ảnh hưởng đến thời gian sau này", thiếu tướng Viện phân tích.

Lãnh đạo C04 thông tin thêm luật này quy định các cơ sở cai nghiện ma túy công lập phải bố trí chỗ dành riêng cho người từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi, đảm bảo cho các em không bị ảnh hưởng, tác động của những người nghiện ma túy trên 18 tuổi. 

Những người trong độ tuổi này khi thực hiện biện pháp cai nghiện tại các cơ sở cũng được đảm bảo các quyền lợi khác như được vui chơi, học hành...

Quản lý người sử dụng ma túy lần đầu để giảm "nguồn cầu"

Theo thiếu tướng Viện, vấn đề quản lý người sử dụng ma túy ngay từ lần đầu cũng được đưa vào Luật phòng, chống ma túy năm 2021. Đây là biện pháp phòng ngừa nhằm giúp người sử dụng trái phép chất ma túy không tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật của họ. 

Thời hạn quản lý là 1 năm kể từ ngày có quyết định quản lý của chủ tịch UBND cấp xã.

Theo trung tá Hoàng Văn Hiều - phó trưởng Phòng 2 (C04), quản lý người sử dụng ma túy ngay từ lần đầu là biện pháp phòng ngừa, không phải xử phạt hành chính, nhằm giúp họ tránh xa ma túy. Công an cấp xã giúp UBND cùng cấp lập danh sách và chủ trì quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy cư trú tại địa phương.

"Chủ tịch UBND cấp xã là người có thẩm quyền ra quyết định và tổ chức quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy cư trú tại địa phương. Tổ quản lý sẽ do công an cấp xã làm tổ trưởng, kết hợp với người có uy tín trong dòng họ để quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy. 

Trong thời gian bị quản lý, nếu những người này tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy thì cơ quan chức năng sẽ đưa đi xác định tình trạng nghiện. Trường hợp kết luận bị nghiện thì sẽ bị áp dụng các hình thức cai nghiện theo quy định", trung tá Hiều phân tích.

Theo lãnh đạo C04, việc quản lý đối với người sử dụng trái phép chất ma túy sẽ không công khai ở địa bàn cư trú, chỉ có tổ công tác quản lý và gia đình người sử dụng trái phép chất ma túy biết. Trong thời gian quản lý, họ vẫn được quyền sinh hoạt, học tập và làm việc như bình thường.

Người sử dụng ma túy ngày càng gia tăng

Theo thống kê của Bộ Công an, tình hình người sử dụng trái phép chất ma túy ngày càng gia tăng. Cụ thể, năm 2017 phát hiện hơn 128.000 người, năm 2018 phát hiện hơn 135.000 người, năm 2019 phát hiện hơn 143.000 người sử dụng trái phép chất ma túy.

Riêng năm 2020, do tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến phức tạp, các lực lượng dồn sức chống dịch, nhiều địa phương áp dụng giãn cách, các dịch vụ không thiết yếu như quán bar, vũ trường, karaoke, khách sạn không được hoạt động nên số lượng người sử dụng ma túy mới bị phát hiện tăng không đáng kể.

THÂN HOÀNG

 

Nhiều điểm mới trong Luật Phòng, chống ma tuý năm 2021

Từ 1/1/2022, Luật  Phòng, chống ma tuý năm 2021 (gồm 8 chương, 55 điều) sẽ chính thức có hiệu lực. Theo đó, những bất cập liên quan đến quy định quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý; về công tác cai nghiện; một số quy định của Luật Phòng, chống ma tuý không thống nhất, đồng bộ với các văn bản pháp luật khác…đã được khắc phục, bổ sung.

Nâng cao vai trò của gia đình trong phòng, chống ma tuý

Tình hình sử dụng trái phép chất ma tuý ngày càng phức tạp, đặc biệt là sử dụng ma tuý tổng hợp. Sự phát triển bùng nổ của các loại hình kinh doanh có điều kiện cho các đối tượng lợi dụng tổ chức sử dụng traí phép ma tuý tổng hợp. Nhiều trường hợp sử dụng ma tuý tổng hợp, ngay từ lần sử dụng đầu tiên đã gây ra nguy hiểm cho chính bản thân mình và gây mất an ninh, trật tự, không kiểm soát được hành vi, gây ra các vụ thảm án, tai nạn giao thông kinh hoàng, có những vụ đối tượng giết chính người thân trong gia đình mình. Do đó, cần phải quy định biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý để có biện pháp phòng ngừa họ tái sử dụng chất ma tuý, theo dõi, giám sát để kịp thời ngăn ngừa họ vi phạm pháp luật, ngăn chặn hành vi xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, tài sản của người khác và chính bản thân họ, không để họ bước chân vào con đường phạm tội.

Vì thế, tại chương IV Luật Phòng, chống ma tuý năm 2021 đã quy định rất rõ về việc xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể; nội dung quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý; trách nhiệm của người sử dụng trái phép chất ma tuý; trách nhiệm của gia đình, cơ quan, tổ chức, cộng đồng trong quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý; lập danh sách người sử dụng trái phép chất ma tuý. Đây là chương được quy định mới nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn, làm tốt công tác này sẽ góp phần ngăn chặn, hạn chế đầu vào người nghiện cũng như các loại tội phạm.

Một buổi tuyên truyền về tác hại của ma tuý cho các học viên. (Ảnh minh hoạ)

Thông tin từ Tiểu ban lý luận về pháp luật bảo vệ an ninh, trật tự và cải cách tư pháp cho biết, trong quá trình xây dựng Luật có ý kiến đề nghị khôi phục lại Điều 199, Bộ luật hình sự năm 1999, tức là xử lý hình sự đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Tuy nhiên, việc này thuộc đối tượng điều chỉnh của Bộ luật Hình sự, Luật Phòng, chống ma tuý chỉ quy định việc quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý. Nội dung cụ thể tại Điều 23 của Luật phòng, chống ma tuý. Theo đó, quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý là biện pháp phòng ngừa nhằm giúp người sử dụng trái phép chất ma tuý không tiếp tục sử dụng trái phép chất ma tuý, phòng ngừa các hành vi vi phạm pháp luật của họ. Thời hạn quản lý là 1 năm kể từ ngày có quyết định quản lý. Việc quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý thực hiện ngay từ lần đầu phát hiện người đó có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý và không phải là biện pháp xử lý vi phạm hành chính.

Đối với người từ đủ 14 tuổi trở lên đã 2 lần bị xử phạt vi phạm hành chính và bị lập biên bản vi phạm hành chính tại lần vi phạm thứ ba trong thời hạn 6 tháng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý thì bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn theo quy định của Luật xử vi phạm hành chính. Để xác định người sử dụng trái phép chất ma tuý cần phải có kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể có kết quả dương tính.  Kết quả xét nghiệm dương tính được gửi ngay đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi người có kết quả xét nghiệm dương tính cư trú, để phục vụ việc quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý. Luật cũng nêu rõ, trách nhiệm gia đình người sử dụng trái trái phép chất ma tuý (Khoản 1 Điều 25): Quản lý, giáo dục người sử dụng trái phép chất ma tuý; Ngăn chặn hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý; Cung cấp thông tin về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của người sử dụng trái phép chất ma tuý cho công an cấp xã nơi người đó cư trú; Ngăn chặn người sử dụng trái phép chất ma tuý có hành vi gây mất trật tự, an toàn xã hội và phối hợp với cơ quan có thẩm quyền đưa người sử dụng trái phép chất ma tuý đi xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể.

Bên cạnh đó, công an xã có trách nhiệm giúp Uỷ ban nhân dân cùng cấp lập danh sách người sử dụng trái phép chất ma tuý cư trú tai địa phương. Khi người sử dụng trái phép chất ma tuý thay đổi nơi cư trú thì công an cấp xã nơi chuyển đi có trách nhiệm thông báo cho công an cấp xã nơi chuyển đến trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày người đó chuyển khỏi địa phương để đưa vào danh sách và tiếp tục quản lý.

Công tác cai nghiện ma tuý sẽ được quy định sát sao hơn

Tại chương V-Cai nghiện ma tuý sẽ có 17 điều nội dung về Cai nghiện ma tuý đã được sửa đổi toàn diện để khắc phục tình trạng bất cập trong công tác cai nghiện hiện nay, bảo đảm tính đồng bộ với pháp luật xử lý vi phạm hành chính và phù hợp với thực tiễn.

Cụ thể, các trường hợp phải xác định tình trạng nghiện gồm người sử dụng trái phép chất ma tuý đang trong thời gian quản lý bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma tuý; Người sử dụng trái phép chất ma tuý không có nơi cư trú ổn định; người đang trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn do có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý hoặc trong thời hạn 1 năm kể từ ngày chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn do có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý mà bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma tuý; Người đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma tuý bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma tuý; Người tự nguyện xác định tình trạng nghiện ma tuý. Biện pháp cai nghiện ma tuý(điều 28) gồm cai nghiện ma tuý tự nguyện và cai nghiện ma tuý bắt buộc.

Cai nghiện ma tuý tự nguyện được thực hiện tại gia đình, cộng đồng hoặc tại cơ sở cai nghiện ma tuý. Cai nghiện ma tuý bắt buộc được thực hiện tại cơ sở cai nghiện ma tuý công lập. Không quy định cai nghiện ma tuý bắt buôc tại cộng đồng. Cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng (Điều 30) được thực hiện với sự trợ giúp chuyên môn của tổ chức, cá nhân cung cấp dịch vụ cai nghiện ma tuý, sự phối hợp , trợ giúp của gia đình, cộng đồng và chịu sự quản lý của UBND cấp xã.

Thời gian cai nghiện tại gia đình, cộng đồng từ đủ 6 tháng đến 12 tháng, Nhà nước có hỗ trợ kinh phí với những trường hợp đủ điều kiện. Tổ chức, cá nhân có đủ điều kiện cung cấp một hoặc nhiều hoạt động cai nghiện theo quy trình cai nghiện ma tuý thì được đăng ký cung cấp dịch vụ cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng với Chủ tịch UBND cấp huyện. Khi tiếp nhận và tổ chức thực hiện cung cấp dịch vụ cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng phải thực hiện đúng quy trình chuyên môn nghiệp vụ theo quy định của cơ quan có thẩm quyền; trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày người cai nghiện ma tuý sử dụng dịch vụ hoặc tự ý chấm dứt việc sử dụng dịch vụ hoặc hoàn thành dịch vụ phải thông báo cho UBND cấp xã nơi người đó đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện tại gia đình, cộng đồng.

Để tránh trường hợp lợi dụng việc cai nghiện tự nguyện hoặc điều trị nghiện các chất dạng thuộc phiện bằng thuốc thay thế để không bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Luật đã quy định chặt chẽ các trường hợp bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người nghiện ma tuý từ đủ 18 tuổi trở lên. Để bảo vệ tốt nhất các quyền của trẻ em nên Luật đã có 1 điều  riêng quy đinh cụ thể về việc lập hồ sơ đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với  người nghiện ma tuý từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi (Điều 34).

Đặng Nhật (CAND)

 

Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy

Chính phủ đã ban hành Nghị định 105/2021/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, trong đó quy định quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy.

Ảnh minh họa

Cụ thể, đối tượng bị quản lý là người có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy mà không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 23 của Luật Phòng, chống ma túy. Một người có dấu hiệu sử dụng trái phép chất ma túy khi có một trong các căn cứ sau đây: Tin báo, tố giác của cá nhân, cơ quan, tổ chức đã được cơ quan có thẩm quyền tiến hành xác minh, làm rõ; thông tin, tài liệu trong các vụ vi phạm pháp luật; người có biểu hiện mất năng lực nhận thức hoặc kiểm soát hành vi nghi do sử dụng ma túy; trên người, phương tiện, nơi ở của người đó có dấu vết của chất ma túy hoặc dụng cụ, phương tiện sử dụng trái phép chất ma túy; người điều khiển phương tiện có biểu hiện sử dụng chất kích thích nghi là ma túy; người có mặt tại các địa điểm có hành vi tổ chức, chứa chấp hoặc sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không có lý do chính đáng; người tự khai báo hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; người bị phát hiện quả tang sử dụng trái phép chất ma túy; những căn cứ khác theo quy định của pháp luật.

Khi có căn cứ cho rằng người có dấu hiệu sử dụng trái phép chất ma túy quy định nêu trên thì cơ quan, người có thẩm quyền xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật Phòng, chống ma túy tiến hành xét nghiệm.

Khi có kết quả xét nghiệm dương tính thì cơ quan Công an nơi phát hiện người sử dụng trái phép chất ma túy có trách nhiệm: Thực hiện xác minh nơi cư trú của người sử dụng trái phép chất ma túy; gửi thông báo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người sử dụng trái phép chất ma túy cư trú hoặc nơi phát hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trong trường hợp người sử dụng trái phép chất ma túy không có nơi cư trú ổn định để tổ chức quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy và lập Hồ sơ quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy.

Về quyết định quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy, trong thời hạn 3 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người sử dụng trái phép chất ma túy cư trú ổn định hoặc nơi phát hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với người không có nơi cư trú ổn định ra quyết định và tổ chức quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 23 của Luật Phòng, chống ma túy.

Thời hạn quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy là 1 năm, kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã ra Quyết định quản lý.

Trong thời hạn quản lý, nếu người đang có quyết định quản lý bị phát hiện tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy mà không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 5 Điều 23 của Luật Phòng, chống ma túy thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có thẩm quyền ra Quyết định quản lý mới, trong đó xác định lại thời hạn quản lý là 1 năm, kể từ ngày ra Quyết định quản lý mới. Trường hợp người đang trong thời hạn quản lý chuyển nơi cư trú thì thời hạn quản lý được tính tiếp từ ngày chuyển đi tới khi hết thời gian quản lý còn lại.

P.V (CAND)

 

Phát hiện 8 chất có tính năng tác dụng tương tự như chất ma túy

Ngày 3/6, Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an cho biết, những chất mới được phát hiện có tính năng tác dụng tương tự như chất ma túy có trong danh mục, thậm chí có tính năng tác dụng mạnh hơn một số chất đã được phát hiện trong nhóm cần sa tổng hợp. 

Theo Viện Khoa học hình sự, thời gian gần đây, tội phạm ma túy đã chế tạo ra những chất mới chưa có trong danh mục cấm để lách luật. Những chất mới chưa có trong danh mục cấm, nhưng tác dụng với người dùng cũng không khác gì ma túy.  

Tính đến tháng 6-2021, lực lượng Khoa học hình sự đã phát hiện thêm 8 chất có tính năng, tác dụng tương tự như ma túy nhưng chưa có tên trong danh mục Nghị định 60/2020/NĐ-CP quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất do Chính phủ ban hành.

Một số chất mới này có tính năng, tác dụng như chất ma túy không có trong danh mục của Việt Nam

 Trước đó, trong năm 2020, tại Việt Nam đã xuất hiện nhiều chất ma túy, chất hướng thần mới chưa có trong danh mục Nghị định 60/2020/NĐ-CP của Chính phủ, bổ sung Danh mục các chất ma túy và tiền chất.

Thủ đoạn của các đối tượng là khi một chất bị phát hiện và đưa vào Danh mục thì chúng lại sử dụng một chất hoàn toàn mới để lách luật (năm 2020 sử dụng chất MDMB-4en-PINACA).

Các đối tượng đã nghiên cứu kỹ danh mục chất ma túy của Việt Nam để "sáng chế"

Thực tế, có một số vụ việc khi bị bắt, các đối tượng khai nhận, cũng đã nghiên cứu kỹ danh mục chất ma túy của Việt Nam và khó xử lý được đối tượng với các mẫu vật thu được.

 Điển hình như vụ đối tượng Schalk, quốc tịch Nam Phi vận chuyển 10 túi nilon có chứa các viên nén nghi ma túy qua sân bay Nội Bài ngày 12/6/2020; hay vụ mua bán trái phép chất ma túy nhưng sử dụng tiền chất mới tại Vĩnh Phúc ngày 4/9/2020.

Những chất mới có tính năng tác dụng như chất ma túy được Viện Khoa học hình sự thu được

Đặc biệt qua giám định đã phát hiện thủ đoạn rất tinh vi của tội phạm ma túy là dùng dẫn xuất của một chất ma túy phối trộn tạo ra viên nén để sử dụng, sau khi uống viên nén này vào cơ thể người sẽ chuyển hóa, giải phóng ra chất ma túy.

 Ví dụ như tìm thấy chất Acetylpsilocine (thời điểm trước tháng 5/2020 chưa nằm trong danh mục chất ma túy tại Việt Nam) là dẫn xuất của Psilocine trong viên nén, khi uống vào cơ thể nó sẽ chuyển hóa và giải phóng ra chất Psilocine có tác dụng gây tác dụng ảo giác mạnh (Psilocine là chất có trong danh mục chất ma túy tại Việt Nam). Trong tự nhiên, Psilocine và Psilocybine tìm thấy có đồng thời trong mẫu thực vật “nấm thức thần” chứa chất ma túy. Tuy nhiên, trong một số mẫu chỉ tìm thấy Psilocine mà không tìm thấy Psilocybine cũng như các thành phần thực vật. Như vậy, các viên nén ma túy không được sản xuất ra từ bột cây “nấm thức thần” mà có thể Psilocine được tách chiết ra từ “nấm thức thần” hoặc từ tổng hợp hóa học.

Các đối tượng "sáng chế" ra loại chất mới chưa có trong danh mục chất ma túy cần kiểm soát tại Việt Nam.

Hay như đã phát hiện đối tượng hòa tan chất hướng thần vào các chai, lọ đựng dung dịch thuốc lá điện tử (giữ nguyên chai, lọ đựng; màu sắc, mùi vị của dung dịch) và dùng dụng cụ hút thuốc lá điện tử để sử dụng trái phép; phun, tẩm chất hướng thần vào sợi thuốc lào (loại thuốc lào sẵn có trên thị trường) để sử dụng,… 

Điều đặc biệt nguy hiểm hơn nữa là các chất này được phun tẩm vào thuốc lào, thuốc lá hay trong dung dịch thuốc lá điện tử với liều lượng không xác định, có thể quá ngưỡng chịu đựng của cơ thể, dẫn đến nguy cơ mất khả năng kiểm soát hành vi, ảo giác, kích thích thần kinh, gây nguy hại không những cho bản thân, có thể tử vong khi quá liều và gây nguy hiểm cả với những người xung quanh, những người thân trong gia đình và xã hội như một số trường hợp đã từng xảy ra do hiện tượng ngáo ma túy thời gian qua mà các phương tiện truyền thông đã từng đưa tin.

Thượng tá, Tiến sĩ Đặng Văn Đoàn, Phó Viện trưởng Viện Khoa học hình sự cho biết, thủ đoạn mới của tội phạm ma túy đã gây thêm khó khăn cho lực lượng chức năng trong việc quản lý, giám định. 

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ, tội phạm nói chung và tội phạm ma túy nói riêng đã lợi dụng thành tựu của khoa học, đặc biệt là công nghệ hóa học, dược học để phạm tội và che giấu hành vi phạm tội. Khi có một chất ma túy mới bị phát hiện được đưa vào diện kiểm soát thì liên tục xuất hiện những chất mới có tính năng tác dụng tương tự thay thế, điển hình là ma túy nhóm cần sa tổng hợp. Số lượng chất ma túy hiện nay được quản lý tăng lên gấp hơn hai lần so với trước  (có 543 chất ma tuý và 57 tiền chất). Vì vậy mà nguồn mẫu chuẩn ma túy là một trong những khó khăn trong công tác giám định hiện na.

 Ngoài ra, do ma túy mới liên tục được phát hiện nên trong cơ sở dữ liệu tàng thư chất ma túy rất nhiều chất chưa có, chưa được cập nhật, đây không chỉ là khó khăn của nước ta mà còn là khó khăn chung của các nước trong khu vực hay trên thế giới.

Năm 2019 và đầu năm 2020, Viện Khoa học hình sự, Bộ Công an đã phát hiện ra một số chất ma túy mới như: N-Ethylpentylone, Acetyl-psilocine, Propyphenidate... Hiện các chất ma tuý mới đã được bổ sung vào danh mục các chất ma túy cần kiểm soát tại Việt Nam theo Nghị định 60/2020/NĐ-CP ngày 29/05/2020 của Chính phủ.

Cũng theo Thượng tá Đặng Văn Đoàn, việc xuất hiện những loại ma túy mới rất phức tạp, gây nhiều khó khăn cho công tác giám định và đấu tranh với loại tội phạm này. Để kiểm soát vấn đề này, cần phải kết hợp nhiều biện pháp. Đầu tiên phải kiểm soát thật tốt nguồn cung ma túy ngay từ cửa khẩu, từ biên giới. Ngoài ra ngay từ trong nội địa cần phải kiểm soát chặt chẽ các hóa chất, tiền chất cũng như các loại thuốc tân dược, thuốc thú y có liên quan tội phạm ma túy.

Đối với công tác giám định cần bổ sung các chất chuẩn ma túy, đây là cơ sở then chốt để giải quyết các vụ án về ma túy khi mà danh mục ma túy cần kiểm soát tại nước ta tăng lên 543 chất. Đối với các chất mới chưa có trong danh mục cần sớm bổ sung vào danh mục chất ma túy cần kiểm soát tại Việt Nam. Tiếp tục tuyên truyền về tác hại của ma túy bằng nhiều hình thức phù hợp khác nhau, đặc biệt là các loại ma túy mới (có chứa hỗn hợp rất nhiều chất ma túy khác nhau) đối với người sử dụng vì nó rất độc hại, khi dùng có thể bị ngộ độc, ảnh hưởng đến tính mạng để giáo dục và phòng ngừa chung, đặc biệt là trong giới trẻ.

Minh Hiền (CAND)

 

 
JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL

Hỗ trợ trực tuyến

Lại Văn Anh

Số lượt truy cập

cai nghien ma tuy, trung tam cai nghien ma tuy, tu van cai nghien ma tuycai nghien ma tuy, trung tam cai nghien ma tuy, tu van cai nghien ma tuycai nghien ma tuy, trung tam cai nghien ma tuy, tu van cai nghien ma tuycai nghien ma tuy, trung tam cai nghien ma tuy, tu van cai nghien ma tuycai nghien ma tuy, trung tam cai nghien ma tuy, tu van cai nghien ma tuycai nghien ma tuy, trung tam cai nghien ma tuy, tu van cai nghien ma tuycai nghien ma tuy, trung tam cai nghien ma tuy, tu van cai nghien ma tuycai nghien ma tuy, trung tam cai nghien ma tuy, tu van cai nghien ma tuy
mod_vvisit_counterToday260
mod_vvisit_counterYesterday368
mod_vvisit_counterThis week2822
mod_vvisit_counterThis month9326
mod_vvisit_counterAll3217805