Đọc sách cùng trung tâm

Cảnh báo: Ma túy được làm từ thuốc thú y

(PLO)- C47 cảnh báo việc sản xuất ma túy tổng hợp trong nước đang gia tăng trở lại, nguyên liệu sản xuất từ các hóa chất, thuốc thú y...

Năm 2017, lực lượng Cảnh sát ĐTTP về ma túy đã triệt phá hàng chục đường dây tách chiết, sản xuất ma túy tổng hợp. Trong đó có vụ triệt phá đường dây tách chiết ma túy từ thuốc thú y nhập khẩu.

 

Hội nghị tổng kết của lực lượng Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy. 

Đó là thông tin được đưa ra tại hội nghị tổng kết năm 2017 của lực lượng Cảnh sát Điều tra tội phạm (ĐTTP) về ma túy do Cục Cảnh sát ĐTTP về ma túy (C47 – Bộ Công an) tổ chức sáng nay, 25-1 tại Hà Nội.

Sản xuất ma túy tổng hợp tăng trở lại

Theo Cục C47, số vụ sản xuất trái phép các chất ma túy ở trong nước tuy không nhiều, gần đây có dấu hiệu tạm lắng, nhưng năm 2017 tình hình sản xuất ma túy tổng hợp trong nước đã gia tăng trở lại. Trong năm qua, lực lượng Cảnh sát ĐTTP về ma túy đã triệt phá hàng chục đường dây tách chiết, sản xuất ma túy tổng hợp.

Trong đó có vụ triệt phá đường dây tách chiết ma túy từ thuốc thú y nhập khẩu. Hiện vụ án đang được tiếp tục điều tra mở rộng. Ngoài ra có vụ triệt phá một đường dây sản xuất ma túy tổng hợp lớn nhất từ trước đến nay ở TP.HCM do Trần Ngọc Hiếu (tức Văn Kính Dương) ở Hà Nội cầm đầu. Chuyên án đã thu giữ hơn 200 kg thuốc lắc, 35 kg ma túy dạng bột và ma túy đá chưa thành phẩm, tổng trị giá hơn 200 tỉ đồng.

Đại tá Nguyễn Địch Nam, Phó cục trưởng Cục C47, cho biết tình trạng sử dụng và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tổng hợp tại các nhà hàng, quán bar diễn biến hết sức phức tạp, nhất là địa bàn các tỉnh, thành phố lớn. Năm qua, lực lượng công an cũng phối hợp với các đơn vị phá thành công nhiều tụ điểm sử dụng ma túy tại các quán bar, vũ trường, quán karaoke…

Theo Cục C47, ma túy tổng hợp là chất gây nghiện thuộc loại nguy hiểm, phá hủy hệ thần kinh, gây ảo giác, khiến người sử dụng không làm chủ hành vi của mình, dẫn đến nhiều hành động gây hại cho chính mình hoặc người xung quanh.

Khi bị “ngáo” ma túy tổng hợp thì người sử dụng không làm chủ bản thân, có thể làm những điều mà người bình thường không bao giờ làm được. Điều đáng lo ngại khi bị “ngáo đá” có thể gây ra hàng loạt các vụ trọng án, giết người không ghê tay, thậm chí giết cả những người thân ruột thịt của mình.

Trong thời gian tới lực lượng Cảnh sát ĐTPT về ma túy sẽ tiếp tục điều tra, triệt xóa các đường dây mua bán ma túy, trong đó có ma túy tổng hợp, ngăn chặn không để ma túy thẩm lậu vào Việt Nam.

Bên cạnh đó, để phòng chống hiệu quả ma túy cần sự chung tay vào cuộc của các cơ quan chức năng và toàn xã hội. Cần thường xuyên tuyên truyền tới mọi tầng lớp nhân dân, trong nhà trường, từng gia đình, nhất là giới trẻ về tác hại của ma túy, nhất là ma túy tổng hợp để không xa ngã vào loại ma dược nguy hiểm này.

Tội phạm ma túy biên giới diễn biến phức tạp 

Theo Cục C47, năm 2017 tình hình tội phạm ma túy trong nước vẫn diễn biến phức tạp trên các tuyến biên giới Việt – Lào, Việt – Trung, Việt Nam – Campuchia cũng như tuyến đường biển và đường hàng không.

 

Xưởng sản xuất ma túy đặt tại Đồng Nai do công an TP.HCM triệt phá

Trên tuyến biên giới Việt-Lào, tình trạng các đối tượng mua bán, vận chuyển ma túy từ Lào vào Việt Nam tiêu thụ hoặc tiếp tục vận chuyển đi nước thứ ba hết sức phức tạp. Lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy đã phát hiện, bắt giữ nhiều đường dây mua bán vận chuyển ma túy lớn. Dọc tuyến biên giới Việt-Lào còn tồn tại nhiều điểm “nóng” phức tạp về ma túy như: huyện Mộc Châu, Vân Hồ, Sông Mã, tỉnh Sơn La; huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên; huyện Mường Lát, Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa; huyện Tương Dương, Quế Phong, Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An…

Trên tuyến biên giới Việt-Trung, hoạt động mua bán, vận chuyển ma túy diễn biến phức tạp theo hai chiều, heroin được mua bán, vận chuyển từ khu vực Tam giác vàng về Việt Nam rồi tiếp tục vận chuyển sang Trung Quốc, ngược lại các loại ma túy tổng hợp “dạng đá” giá rẻ được mua bán, vận chuyển từ Trung Quốc vào Việt Nam tiêu thụ. Địa bàn trọng điểm là khu vực biên giới các tỉnh Lạng Sơn, Lào Cai, Cao Bằng, Quảng Ninh. Lực lượng chức năng đã phát hiện, triệt phá nhiều đường dây mua bán, vận chuyển ma túy lớn.

Trên tuyến biên giới Việt Nam-Campuchia, tình hình tội phạm ma túy gia tăng, các đối tượng trốn truy nã người Việt Nam móc nối với đối tượng người Campuchia thường xuyên mua bán, vận chuyển ma túy từ Campuchia vào TP.HCM và các tỉnh phía nam tiêu thụ. Thậm chí ma túy tổng hợp còn được chuyển từ TP.HCM đi các tỉnh phía Bắc tiêu thụ. Đã phát hiện, triệt phá nhiều đường dây mua bán, vận chuyển ma túy tổng hợp từ Campuchia về các tỉnh phía Nam.

Tuyến hàng không, đường biển vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp, nhất là trên tuyến đường biển, các lực lượng chức năng có trách nhiệm phòng chống ma túy trên tuyến này còn nhiều hạn chế nên điều tra bắt giữ rất khó khăn, chưa có hiệu quả.

Thống kê, trong năm 2017, lực lượng Cảnh sát Điều tra tội phạm về ma túy đã phối hợp với các lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ 22.346 vụ, 34.494 đối tượng liên quan đến ma túy (nhiều hơn 3.013 vụ, 3.493 đối tượng so với năm 2016).

Thu giữ 906,67 kg heroin; 856,9 kg và 979.487 viên ma túy tổng hợp (nhiều hơn 298,86 kg heroin, 17,27 kg ma túy tổng hợp so với năm 2016); 2,39 kg cocain; 167,1 kg thuốc phiện; 376,4 kg cần sa khô; 111,02 kg cần sa tươi; 108,01 kg “cỏ Mỹ”; 17,64 kg Ketamin, 319 khẩu súng và nhiều tang vật có liên quan. 

NGỌC BẢO

 

Tội phạm về ma túy được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015

Bộ luật Hình sự số 100⁄2015⁄QH13 được Quốc hội khóa 13 thông qua ngày 27⁄11⁄2015; đã được Quốc hội khóa 14 sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12⁄2017⁄QH14 thông qua ngày 20⁄6⁄2017 (sau đây gọi là Bộ luật Hình sự 2015) có hiệu lực thi hành từ ngày 01⁄01⁄2018. Trong đó, từ Điều 247 đến Điều 259, quy định các tội về ma túy như sau:

 

Điều 247. Tội trồng cây thuốc phiệncây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy

1. Người nào trồng cây thuốc phiện, cây côca, cây cần sa hoặc các loại cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã được giáo dục 02 lần và đã được tạo điều kiện ổn định cuộc sống;

b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Với số lượng từ 500 cây đến dưới 3.000 cây.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;                                                 

b) Với số lượng 3.000 cây trở lên;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

4. Người nào phạm tội thuộc khoản 1 Điều này, nhưng đã tự nguyện phá bỏ, giao nộp cho cơ quan chức năng có thẩm quyền trước khi thu hoạch, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự.

Điều 248. Tội sản xuất trái phép chất ma túy

1. Người nào sản xuất trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;

e) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 200 mililít;

i) Tái phạm nguy hiểm;

k) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm đ đến điểm h khoản này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Có tính chất chuyên nghiệp;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

d) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;

đ) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 200 mililít đến dưới 750 mililít;

e) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm đ khoản này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;

c) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;

d) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;

đ) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm d khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;

e) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;

g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

h) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

i) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;

k) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

l) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

m) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít;

n) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này;

o) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 75 kilôgam trở lên;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 250. Tội vận chuyển trái phép chất ma túy

1. Người nào vận chuyển trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích sản xuất, mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 249, 251 và 252 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;

e) Qua biên giới;

g) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;

h) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

i) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

k) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;

l) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

m) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

n) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít;

o) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm g đến điểm n khoản này;

p) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 75 kilôgam trở lên;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với 02 người trở lên;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

đ) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội hoặc bán ma túy cho người dưới 16 tuổi;

g) Qua biên giới;

h) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;

i) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

k) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

l) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;

m) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

n) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

o) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít;

p) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này;

q) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 75 kilôgam trở lên;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 252. Tội chiếm đoạt chất ma túy

1. Người nào chiếm đoạt chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các điều 248, 249, 250 và 251 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 gam đến dưới 500 gam;

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

d) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 05 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

e) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 10 kilôgam;

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

h) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 10 mililít đến dưới 100 mililít;

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;

e) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 500 gam đến dưới 01 kilôgam;

g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

h) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 25 kilôgam;

i) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 200 kilôgam;

k) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 10 kilôgam đến dưới 50 kilôgam;

l) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

m) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 100 mililít đến dưới 250 mililít;

n) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này;

o) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng 05 kilôgam trở lên;

b) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng 100 gam trở lên;

c) Lá cây côca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng 75 kilôgam trở lên;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng 600 kilôgam trở lên;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng 150 kilôgam trở lên;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng 300 gam trở lên;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích 750 mililít trở lên;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 253. Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy

1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 06 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Tiền chất ở thể rắn có khối lượng từ 50 gam đến dưới 200 gam;

c) Tiền chất ở thể lỏng có thể tích từ 75 mililít đến dưới 300 mililít.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 năm đến 13 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Tiền chất ở thể rắn có khối lượng từ 200 gam đến dưới 500 gam;

e) Tiền chất ở thể lỏng có thể tích từ 300 mililít đến dưới 750 mililít;

g) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;

h) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 13 năm đến 20 năm:

a) Tiền chất ở thể rắn có khối lượng từ 500 gam đến dưới 1.200 gam;

b) Tiền chất ở thể lỏng có thể tích từ 750 mililít đến dưới 1.800 mililít.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Tiền chất ở thể rắn có khối lượng 1.200 gam trở lên;

b) Tiền chất ở thể lỏng có thể tích 1.800 mililít trở lên.

5. Trường hợp phạm tội có cả tiền chất ở thể rắn và tiền chất ở thể lỏng thì được quy đổi để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự, với tỷ lệ 01 gam tiền chất ở thể rắn tương đương với 1,5 mililít tiền chất ở thể lỏng. Sau khi quy đổi, số lượng tiền chất thuộc khoản nào, thì người thực hiện hành vi phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản đó.

6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 254. Tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

b) Có số lượng từ 06 đơn vị đến 19 đơn vị dụng cụ, phương tiện cùng loại hoặc khác loại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Có số lượng 20 đơn vị dụng cụ, phương tiện cùng loại hoặc khác loại trở lên;

e) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

g) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;

d) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

đ) Đối với người đang cai nghiện;

e) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

g) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

h) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người;

b) Gây tổn hại cho sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người từ 31% đến 60%;

c) Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên;

d) Đối với người dưới 13 tuổi.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;

b) Làm chết 02 người trở lên.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 256. Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Đối với người dưới 16 tuổi;

d) Đối với 02 người trở lên;

đ) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 257. Tội cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần của người khác để buộc họ phải sử dụng trái phép chất ma túy trái với ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Vì động cơ đê hèn hoặc vì tư lợi;

d) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;

đ) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

e) Đối với 02 người trở lên;

g) Đối với người đang cai nghiện;

h) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

i) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

k) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên hoặc gây chết người;

b) Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên;

c) Đối với người dưới 13 tuổi.

4. Phạm tội trong trường hợp làm chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù 20 năm hoặc tù chung thân.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Điều 258. Tội lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy

1. Người nào rủ rê, dụ dỗ, xúi giục hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Vì động cơ đê hèn hoặc vì tư lợi;

d) Đối với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 18 tuổi;

đ) Đối với phụ nữ mà biết là có thai;

e) Đối với 02 người trở lên;

g) Đối với người đang cai nghiện;

h) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%;

i) Gây bệnh nguy hiểm cho người khác;

k) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên hoặc gây chết người;

b) Gây bệnh nguy hiểm cho 02 người trở lên;

c) Đối với người dưới 13 tuổi.

4. Phạm tội trong trường hợp gây chết 02 người trở lên, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Điều 259. Tội vi phạm quy định về quản lý chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần

1. Người nào có trách nhiệm trong quản lý chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần mà thực hiện một trong các hành vi sau đây, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Chương XX của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Vi phạm quy định về xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, quá cảnh chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện hoặc thuốc hướng thần;

b) Vi phạm quy định về nghiên cứu, giám định, sản xuất, bảo quản chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện hoặc thuốc hướng thần;

c) Vi phạm quy định về giao nhận, vận chuyển chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện hoặc thuốc hướng thần;

d) Vi phạm quy định về phân phối, mua bán, trao đổi chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện hoặc thuốc hướng thần;

đ) Vi phạm quy định về quản lý, kiểm soát, lưu giữ chất ma túy, tiền chất, thuốc gây nghiện hoặc thuốc hướng thần tại khu vực cửa khẩu, khu vực biên giới, trên biển;

e) Vi phạm quy định về cấp phát, cho phép sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện hoặc thuốc hướng thần.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a) Có tổ chức;

b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Tái phạm nguy hiểm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

HH

 

 

Cưỡng ép người khác sử dụng ma túy, phạm tội gì?

ANTD.VN - Hoàng Đình P. (SN 1978), là một người nghiện ma túy, đã từng bị kết án về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về với cộng đồng, Hoàng Đình P. đã rủ rê, lôi kéo một số người sử dụng trái phép chất ma túy, trong đó có Nguyễn Thái H. (SN 1993). Do Nguyễn Thái H. chưa từng sử dụng ma túy nên đã sợ không dám chích ma túy. Hoàng Đình P. ra lệnh cho đồng bọn trói và đánh đập Nguyễn Thái H. Vì bị đánh và sợ Hoàng Đình P. nên Nguyễn Thái H. đã miễn cưỡng sử dụng ma túy và bị bắt quả tang. Vấn đề đặt ra ở đây là hành vi cưỡng ép người khác sử dụng ma túy của Hoàng Đình P. phạm tội gì?

 

Ý kiến bạn đọc

Phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy 

Trong vụ việc này, Hoàng Đình P. và đồng bọn đã phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 197, Bộ luật Hình sự. Theo quy định của pháp luật thì hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi chỉ huy, phân công, điều hành việc chuẩn bị, cung cấp chất ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, tìm người sử dụng chất ma túy. Trong vụ việc này Hoàng Đình P. là người chỉ huy, phân công, điều hành việc sử dụng ma túy và trước đó, Hoàng Đình P. đã từng bị kết án về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, Hoàng Đình P. đã phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy.

Nguyễn Thu Thủy (Thanh Xuân - Hà Nội)

 

Cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy

Hành vi dùng vũ lực của Hoàng Đình P. để bắt Nguyễn Thái H. phải miễn cưỡng sử dụng ma túy đã phạm tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy được quy định tại Điều 200, Bộ luật Hình sự. Theo quy định của pháp luật, cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng những thủ đoạn làm cho người bị đe dọa sợ hãi phải miễn cưỡng sử dụng trái phép chất ma túy. Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi dùng lời lẽ hoặc thủ đoạn nhằm mua chuộc, rủ rê, dụ dỗ, xúi giục hoặc bằng các thủ đoạn khác khêu gợi sự ham muốn sử dụng ma túy của người khác để họ tự nguyện sử dụng trái phép chất ma túy. Hoàng Đình P. đã có hành vi ra lệnh cho đồng bọn trói và đánh đập H. Vì bị đánh và sợ P., nên H. đã miễn cưỡng sử dụng ma túy. Do đó, Hoàng Đình P. đã phạm tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy.

Đoàn Quốc Thái (TP Hà Giang - Hà Giang)

 

Không phạm tội

Căn cứ vào nội dung vụ việc, tôi cho rằng các đối tượng trong vụ việc này đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tuy nhiên tội này đã bị bãi bỏ trong Bộ luật Hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2009) nên Hoàng Đình P. không có tội. Mặc dù theo nội dung vụ việc, Hoàng Đình P. đã rủ rê lôi kéo một số người sử dụng ma túy, trong đó có Nguyễn Thái H. Tuy H. là người chưa từng sử dụng ma túy nhưng tôi cho rằng bản thân H. nếu ý thức được tác hại của ma túy thì đã không nghe theo lời rủ rê, lôi kéo của P. Việc H. đi theo P. đến nơi sử dụng ma túy cho thấy H. cũng có ý định muốn thử ma túy. Do đó, theo tôi không thể kết tội Hoàng Đình P.  trong trường hợp này. 

Hoàng Xuân Hà (Sông Công - Thái Nguyên)

 

Bình luận của luật sư

Căn cứ vào nội dung vụ việc, theo chúng tôi có cơ sở để khẳng định Hoàng Đình P. đã phạm tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng chất ma túy theo Điều 200, Bộ luật Hình sự.

Theo điều văn của điều luật thì người phạm tội cưỡng bức hoặc lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy có thể thực hiện một trong hai hoặc cả hai hành vi: Cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy hoặc lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy.

Cưỡng bức người khác sử dụng trái phép chất ma túy là dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực hoặc dùng những thủ đoạn làm cho người bị đe dọa sợ hãi phải miễn cưỡng sử dụng trái phép chất ma túy.

Lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy là dùng lời lẽ hoặc thủ đoạn nhằm mua chuộc, rủ rê, dụ dỗ, xúi giục hoặc bằng các thủ đoạn khác khêu gợi sự ham muốn sử dụng ma túy của người khác để họ tự nguyện sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi của Hoàng Đình P. trong vụ việc này đã thể hiện việc cưỡng bức Nguyễn Thái H. sử dụng ma túy thông qua việc ra lệnh cho đồng bọn dùng vũ lực bằng cách trói và đánh H. Vì bị đánh và sợ P., nên H. đã miễn cưỡng sử dụng ma túy. 

Hành vi của Hoàng Đình P. cưỡng bức, lôi kéo Nguyễn Thái H. sử dụng trái phép chất ma túy trong vụ việc này không phải là tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Bởi trong tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy có thể cũng dùng những thủ đoạn như: Dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng những thủ đoạn làm cho người bị đe doạ sợ hãi hoặc mua chuộc, rủ rê, dụ dỗ, xúi giục người khác để họ sử dụng ma túy nhưng lại khác nhau ở chỗ: Người phạm tội có hành vi đưa chất ma túy vào cơ thể của người sử dụng ma túy hoặc tổ chức đưa chất ma túy vào cơ thể của người sử dụng trái phép chất ma túy.

Nói cách khác, người phạm tội cưỡng bức hoặc lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy chỉ có hành vi cưỡng bức hoặc lôi kéo, còn việc đưa chất ma túy vào cơ thể của người bị cưỡng bức, bị lôi kéo là do tự người sử dụng ma túy thực hiện. Điều này được thể hiện tại Mục 6, Phần II, Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP. Theo đó “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là một trong các hành vi sau đây: a) Chỉ huy, phân công, điều hành các hoạt động đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; b) Chỉ huy, phân công, điều hành việc chuẩn bị, cung cấp chất ma túy, địa điểm, phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, tìm người sử dụng chất ma túy.

Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây theo sự chỉ huy, phân công, điều hành của người khác thì bị coi là đồng phạm về tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy: đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; cung cấp trái phép chất ma túy cho người khác để họ sử dụng trái phép chất ma túy; chuẩn bị chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào (mua, xin, tàng trữ, sản xuất…) nhằm đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; chuẩn bị địa điểm (thuê địa điểm, mượn địa điểm, sử dụng địa điểm không thuộc quyền chiếm hữu của mình hoặc đang do mình quản lý để làm nơi đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác); chuẩn bị dụng cụ, phương tiện dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào (mua, xin, tàng trữ…) nhằm sử dụng để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác; tìm người sử dụng chất ma túy để đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể của họ.

Về các dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm: Người phạm tội cưỡng bức hoặc lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy thực hiện hành vi phạm tội của mình do cố ý, tức là nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi cưỡng bức hoặc lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện.

Như vậy, đối với hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy chỉ có thể được thực hiện do cố ý trực tiếp. Không có trường hợp nào do cố ý gián tiếp. Mục đích của người phạm tội là dấu hiệu bắt buộc, tức là người phạm tội mong muốn người khác sử dụng trái phép chất ma tuý với nhiều động cơ khác nhau. Trong vụ việc này đã thể hiện, sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về, Hoàng Đình P. đã rủ rê, lôi kéo một số người sử dụng trái phép chất ma túy, trong đó có Nguyễn Thái H. (SN 1993). Như vậy, ý thức chủ quan của Hoàng Đình P. là cố ý muốn H. sử dụng ma túy cùng với mình.

Tình tiết tăng nặng trong vụ việc này là Hoàng Đình P. và đồng bọn đã phạm tội có tổ chức: Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như các trường hợp phạm tội có tổ chức khác. Cưỡng bức hoặc lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy có tổ chức là trường hợp có nhiều người cố ý cùng bàn bạc, câu kết chặt chẽ với nhau, vạch kế hoạch để thực hiện hành vi cưỡng bức hoặc lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy, dưới sự điều khiển thống nhất của người cầm đầu, có sự phân công, sắp đặt vai trò của những người tham gia, trong đó mỗi người thực hiện một hoặc một số hành vi và phải chịu sự điều khiển của người cầm đầu.

Những người đồng phạm khác như: Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức cũng tương tự với trường hợp phạm tội có tổ chức khác, chỉ khác ở chỗ tội phạm được thực hiện trong trường hợp này là hành vi cưỡng bức hoặc lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy; người thực hành trong vụ án cưỡng bức hoặc lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy là người trực tiếp thực hiện hành vi cưỡng bức hoặc lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma túy. Trong vụ việc này, Hoàng Đình P. đã thể hiện vai trò cầm đầu của mình bằng cách rủ rê lôi kéo và sau khi nhận thấy H. không dám chích ma túy, P. đã ra lệnh cho đồng bọn trói và đánh H.

 

 

Vì sao có những người sử dụng chất gây nghiện

Cuối cùng, có phải khoa học cũng sắp hiểu được việc nghiện ngập?

Chúng ta biết rằng những người nghiện mất khả năng kiểm soát cuộc sống của mình và họ sẽ sớm tử vong vì một (hoặc nhiều) chất kích thích mình thích dùng. Thế nhưng, câu hỏi quan trọng là vì sao một thanh niên trong nhóm trẻ đồng trang lứa lại trở thành người nghiện và những bạn trẻ khác vẫn không sa vào.

Giải thích xưa nhất về việc nghiện là do đạo đức yếu kém không thỏa đáng vì nó mù mờ, vòng vo. Nó chưa làm rõ lý do tại sao một vài người có khả năng chống lại việc nghiện ngập. Các nhà khoa học cũng không thích cách giải thích đạo đức vì nó gợi lên ý chí tự do, vốn được xem là không có khoa học.

Gác lại lời giải thích chưa thỏa đáng về đạo đức, các nhà nghiên cứu về nghiện đưa ra hai lý thuyết hợp lý. Theo mô hình bệnh tật, người nghiện là người bị yếu điểm sinh học đối với một số, hoặc tất cả các loại chất gây nghiện. Giải thích khác là việc sử dụng ma túy đang gia tăng và những người nghiện chỉ đơn giản là học cách lặp lại các hành động khiến họ cảm thấy sung sướng.

Lý thuyết bệnh nghiện

Nghiện ma túy gây ra đủ mọi vấn đề y học nhưng lý thuyết bệnh cho rằng người nghiện có một yếu điểm sinh học với việc nghiện thậm chí trước khi bắt đầu sử dụng ma túy.

Quan điểm này nằm trong chiến lược của Những người nghiện rượu ẩn danh (AA - Alcoholics Anonymous) mà rõ ràng là đã cứu được nhiều cuộc đời và dường như nó cũng hữu ích cho các thành viên trong gia đình và các nhà trị liệu. Nếu lý thuyết bệnh là chính xác, nó hứa hẹn một loại thuốc có thể điều chỉnh sự bất thường hóa học của não liên quan đến việc nghiện.

Không cần phải nói, không có hạt đậu thần kì nào như vậy và có thể không bao giờ xảy ra. Một lý thuyết khác nữa lại tập trung vào các thuộc tính gây nghiện của ma túy.

Có phải người ta học việc nghiện?

Cách nghĩ rằng việc củng cố các thuộc tính của chất gây nghiện tạo ra sự nghiện ngập đã nổi tiếng nhờ các thí nghiệm chỉ ra là các động vật trong phòng thí nghiệm sẽ nhấn một đòn bẩy để nhận được các mũi tiêm nhỏ có chứa chất gây nghiện.

Cách tiếp cận này đặc biệt hữu ích trong việc giải thích lý do tại sao hút crack cocaine (cocaine vụn) dạng khói dễ nghiện nhiều hơn các loại hút trực tiếp bằng đường mũi. Các loại hút dạng khói nhanh vào não hơn. Ý tưởng là càng củng cố ngay lập tức thì càng tăng cường hành vi sử dụng ma túy.

Lý thuyết học tập của sự nghiện ngập cũng được khoa học thần kinh hỗ trợ bởi vì chất gây nghiện kích hoạt dopamin (một loại hocmon hạnh phúc) - dựa trên hệ thống phần thưởng, cái được sự chọn lọc tự nhiên thiết kế ra để tăng cường các hành vi thỏa mãn một cách tự nhiên như cho ăn và giao phối.

Sự giải thích dựa trên quan điểm tiến hoá về việc học việc nghiện ngập thực sự mang lại một giải thích ngắn gọn về lý do tại sao xảy ra việc nghiện. Tuy nhiên, nó không giúp giải thích lý do tại sao một số cá nhân bị sa lầy trong khi những người khác có cùng lịch sử dùng chất lại không bị.

Điều khó hiểu của những người bị nghiện

Vấn đề tại sao một số cá nhân trở thành người nghiện vẫn là một câu hỏi mở nhưng các nhà tâm sinh lý học có thể đang tập trung vào giải pháp. Từ lâu ta đã biết rằng hệ thống dopamine ở người nghiện hoạt động ở mức thấp và họ bị giảm khả năng trải nghiệm niềm vui trong cuộc sống bình thường của mình.

Không quá ngạc nhiên vì điều đó bởi các thụ thể não thường có xu hướng bị cạn kiệt bởi sự kích thích quá mức của chất dẫn truyền thần kinh. Hiện nay, các nhà nghiên cứu đang báo cáo các bất thường di truyền trong các hệ thống dopamine có tương quan với các khuynh hướng nghiện trước khi mắc phải nghiện ngập (1).

Đọc những dòng này, ta thấy có thể một số người có xu hướng dễ nghiện hơn vì họ ít có được niềm vui hơn thông qua con đường tự nhiên, chẳng hạn như từ công việc, bạn bè và các mối quan hệ lứa đôi. Điều đó có thể giải thích tại sao họ kiếm tìm cảm giác kích thích nhiều hơn, hoặc "luôn thấy thiếu, đói".

Bất thường dopamine cũng có thể liên quan đến việc thiếu sự kiểm soát xã hội ở một số người nghiện. Người nghiện rượu lờ đi nhiều qui ước xã hội về việc sử dụng rượu, ví dụ: nên giao tiếp gần gũi; không bao giờ nên uống rượu trước giờ trưa; nên uống giới hạn trong bữa tối; không bao giờ uống nhiều hơn ba thức uống...

Nếu những cách tiếp cận này có kết quả, cuối cùng, chúng ta có thể bắt đầu hiểu tại sao một số cá nhân không chống lại nổi việc nghiện ngập. Câu trả lời có thể kết hợp các khía cạnh của lý thuyết bệnh và hiểu biết tinh vi về tác động của thuốc trên não.

 

1. Davis, C., và Loxton, N.J (2013). Hành vi nghiện và những nét tính cách dễ mắc thói nghiện: Sự liên kết với cấu trúc di truyền đa điểm dopamine. Hành vi nghiện (Addictive behaviors and addiction-prone personalitytraits: Associations with a dopamine multilocus genetic profile. Addictive Behaviors). Hành vi gây nghiện, 38, 2306-2312.

 

Cảnh sát báo động nạn sản xuất ma túy trong nước

(PLO)- Cơ quan chức năng bắt giữ gần 3.500 người với hơn 2,5 tấn ma túy tổng hợp nhưng tình trạng chiết xuất, sản xuất ma túy trong nước đang có dấu hiệu gia tăng trở lại.

Năm 2017, tình hình tội phạm và tệ nạn ma túy ở Việt Nam tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường. Ma túy phần nhiều được mua bán, vận chuyển trái phép qua các tuyến biên giới Việt - Lào, Việt - Trung, Việt Nam - Campuchia và qua tuyến đường hàng không, đường biển vào Việt Nam tiêu thụ hoặc vận chuyển đi nước thứ ba.

Ma túy được thu giữ trong một vụ án

Lực lượng CSĐT tội phạm về ma túy đã phối hợp cùng các lực lượng chức năng phát hiện, bắt giữ bắt giữ gần 35.000 người liên quan đến tội phạm ma túy (tăng 10% so với năm 2016) với hơn 2,5 tấn ma túy các loại. (Trong đó có hơn 900 kg heroin, 857 kg và gần 1 triệu viên ma túy tổng hợp - lượng heroin thu giữ được nhiều hơn 30% so với năm 2016).

Ngoài ra, cơ quan chức năng còn thu giữ hàng tạ thuốc phiện, cocain, cần sa khô, cỏ Mỹ và gần 320 khẩu súng các loại.

Cơ quan chức năng cũng báo động tình trạng đáng lo ngại là tội phạm tìm cách sản xuất, tách chiết để sản xuất ma túy tổng hợp ngay trong nội địa có dấu hiệu gia tăng.

Thiếu tướng Nguyễn Anh Tuấn, Cục trưởng C47, cho rằng trong thời gian tới, hoạt động tội phạm ma túy tại Việt Nam vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp. Nhất là sự gia tăng hoạt động của các đường dây mua bán, vận chuyển ma túy xuyên quốc gia.

Tội phạm ma túy vẫn sẽ tập trung hoạt động mạnh trên tuyến Tây Bắc, Đông Bắc, Bắc miền Trung, Tây Nam, tuyến hàng không, tuyến đường biển. Trong khi đó hoạt động của các toán, nhóm vũ trang vận chuyển trái phép chất ma túy qua khu vực biên giới thuộc địa bàn tỉnh Sơn La, tỉnh Nghệ An vào sâu trong nội địa vẫn diễn biến phức tạp.

Ông Tuấn cho biết năm 2018, lực lượng CSĐT tội phạm về ma túy sẽ tập trung đấu tranh triệt phá các đường dây ma túy lớn liên tuyến, liên tỉnh và xuyên quốc gia, các tụ điểm mua bán lẻ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy không để phức tạp trở lại. Trong đó, giải quyết các địa bàn trọng điểm phức tạp về ma túy, nhất là tại Lóng Luông, Vân Hồ, Sơn La và huyện Mai Châu, Hòa Bình.

Lực lượng cũng sẽ tập trung truy bắt, vận động đối tượng truy nã ra đầu thú; tích cực điều tra mở rộng, truy bắt các đối tượng chủ mưu, cầm đầu các đường dây mua bán ma túy lớn. Ngoài ra, tăng cường phối hợp với các nước láng giềng Lào,Trung Quốc, Campuchia cùng với bộ đội biên phòng, hải quan, cảnh sát biển trong đấu tranh chống tội phạm ma túy tại địa bàn biên giới, cửa khẩu, trên biển chặn ma túy ngay từ biên giới, không để ma túy thẩm lậu vào Việt Nam.

HUY HÀ

 

Ngáo đá, tái nghiện: Khó quản

(PL)- Những người sử dụng ma túy đá bị phát hiện đã khó quản lý, người đang cai tại cộng đồng mà sử dụng ma túy đá càng khó đưa họ trở lại cơ sở cai nghiện tập trung.

Trong phiên thảo luận tại hội trường kỳ họp thứ 6 HĐND TP.HCM diễn ra gần đây, đại biểu Nguyễn Thị Tố Trâm lo ngại về tình trạng thanh niên phê ma túy đá. “Mối nguy của đối tượng ngáo đá này là mất kiểm soát hành vi, hung hãn gây nguy hiểm cho xã hội... Cơ quan chức năng cần xem lại công tác quản lý đối tượng này” - bà Trâm nêu. Tuy nhiên, vấn đề này chưa được cơ quan chức năng trả lời tại phiên thảo luận.

Thực tế, mối lo ngại của bà Trâm là có căn cứ vì có nhiều người nghiện, tái nghiện nhưng khó cách ly họ vì vướng nhiều thủ tục.

Thiếu hướng dẫn

Ông Mai Ngọc Thuần, Phó Trưởng phòng LĐ-TB&XH quận Bình Tân, cho hay: Gần đây nhiều người ngáo đá gây nên các hành vi vi phạm pháp luật, gây bất an cho xã hội.

Chỉ ở Bình Tân, hai năm gần đây, số vụ phạm pháp hình sự liên quan đến người nghiện chiếm tỉ lệ khá cao. Chỉ năm 2017, trên địa bàn quận có 92 người nghiện ma túy vi phạm pháp luật hình sự bị bắt giữ, chiếm hơn 34%. Sắp tới, Bình Tân sẽ tiếp nhận gần 30 người nghiện từ các cơ sở trở về địa phương. Nhưng đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn công tác quản lý sau cai nghiện tại nơi cư trú đối với các trường hợp này, quận chỉ đưa những đối tượng này vào danh sách quản lý nghiêm.

Với nhóm nghiện ma túy tổng hợp đang điều trị tại địa phương được phân loại thành hai nhóm: Có biểu hiện ngáo và có nguy cơ ngáo để giám sát. Bên cạnh việc cho họ cam kết không tiếp tục sử dụng ma túy, địa phương còn tuyên truyền gia đình, căn dặn họ báo cho địa phương để ngăn chặn kịp thời khi có biểu hiện ngáo.

Ông Thuần nhìn nhận việc quản lý người tái nghiện sau cai cũng đang gặp nhiều khó khăn do vướng quy định của pháp luật. Theo quy định, người nghiện sau cai được giáo dục tại địa phương trong thời hạn 3-6 tháng, nếu không tiến bộ, tiếp tục nghiện thì mới bị lập biên bản, chuyển hồ sơ ra tòa xem xét đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

 

Thanh niên bị ngáo đá trèo lên nóc chùa ở quận 8 cố thủ. Ảnh: N.TÂN

“Chưa kể, người nghiện có nơi cư trú ổn định, chấp hành xong quyết định của tòa án trở về nhà, đến nay chưa có hướng dẫn về việc quản lý họ, quận chỉ biết đưa vào danh sách quản lý nghiêm” - ông nói.

Ông Trần Ngọc Du, Chi cục trưởng Chi cục Phòng, chống tệ nạn xã hội (thuộc Sở LĐ-TB&XH TP.HCM), cho biết vấn đề người nghiện tái nghiện phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân như ý chí, môi trường, sự kỳ thị của cộng đồng...

Nếu họ không vượt qua được, các cơ quan chức năng tiếp tục động viên họ tự nguyện cai nghiện tại nhà. “Trừ khi Nhà nước đã giúp, động viên… mà họ không từ bỏ thì mới áp dụng biện pháp tiếp theo là bắt buộc cai nghiện” - ông Du khẳng định.

Không biết lên cơn ngáo khi nào

Theo một cán bộ công an  ở một xã huyện Hóc Môn, những người sử dụng ma túy đến mức “ngáo đá” thường rất manh động, nhiều trường hợp người nhà, lực lượng chức năng không trở tay kịp.

Theo người này, để quản lý được những người sử dụng ma túy, nhất là ma túy đá, trách nhiệm của gia đình rất cao. Khi phát hiện, gia đình phải thông báo cho địa phương, đưa đi cai nghiện tự nguyện tại các cơ sở xã hội… nhưng phải có sự đồng ý của chính người nghiện, điều này là bất khả thi.

11.231 người nghiện đang điều trị tại tất cả cơ sở cai nghiện tại TP.HCM và khoảng 4.000 người đang điều trị và quản lý tại cộng đồng.

Trường hợp gia đình khó khăn, phải báo cho địa phương để phối hợp lập hồ sơ đưa đi cai nghiện bắt buộc. Để phát hiện kịp thời, ngăn chặn tình huống xấu xảy ra, gia đình phải có sự chủ động phối hợp với chính quyền địa phương để cùng xử lý.

Vị cán bộ này cũng thừa nhận địa phương gặp khó trong việc quản lý, xử lý với người ngáo đá. Theo đó, nếu bị phát hiện, địa phương sẽ lập hồ sơ quản lý. Phát hiện họ tái nghiện mới lập hồ sơ đưa đi cai nghiện bắt buộc. “Tuy nhiên, để đưa đi cai nghiện bắt buộc cũng phải qua các thủ tục chặt chẽ, mất nhiều thời gian. Lúc này họ bỏ trốn hoặc lén sử dụng ma túy thì không ai quản lý nổi. Vai trò của gia đình trong việc giám sát là rất quan trọng” - người này nói.

Còn một cán bộ điều tra thuộc đội hình sự Công an quận 10 cho rằng mỗi địa phương có các mô hình để quản lý người nghiện, tuy nhiên cũng không thể nào quản suốt 24/24 giờ nên điều quan trọng nhất là gia đình và bản thân người nghiện phải hợp tác. “Họ là con bệnh nên đâu thể theo sát như tội phạm để đề phòng họ sử dụng ma túy đá, ngáo và gây án” - người này cho hay.

Theo cán bộ điều tra này, người sử dụng ma túy đá có thể là bất kỳ ai, họ sử dụng bất cứ lúc nào kể cả khi vui, khi buồn. “Những người đã sử dụng ma túy đá lâu năm, mức độ hòa nhập xã hội của họ gần như rất thấp. Nhiều em khéo che đậy là con ngoan trò giỏi, đến khi nghiện nặng, lên cơn ngáo thì gia đình mới hay” - ông nói.

Tại Hà Nội, Công an phường Thịnh Liệt có cách đưa người sử dụng ma túy đá đi chữa bệnh rất hay là: Khi phát hiện người nghiện sử dụng ma túy đá, công an sẽ vận động, thuyết phục người nghiện ngưng sử dụng. Tuy nhiên, nhiều trường hợp việc vận động là bất khả thi, công an dùng biện pháp nghiệp vụ, đưa thẳng người nghiện vào bệnh viện tâm thần chữa trị khi họ vừa dùng ma túy đá.

• Dấu hiệu để nhận biết người nghiện bị ngáo đá: Về lâm sàng, người ngáo đá bị rối loạn nhịp tim, vã mồ hôi, ớn lạnh, giãn đồng tử, kích thích tâm thần vận động hoặc co giật… Về hành vi, người ngáo đá thường bị rối loạn các hành vi chức năng hoặc rối loạn tri giác. Theo đó, họ thường bị ảo giác, ảo thị, ảo thanh và ảo xúc giác như nói nhiều, lo âu, đa nghi, kích động, bồn chồn, tăng hoạt động, rập khuôn một hành động nào đó; tăng ham muốn tình dục, tăng nhạy cảm với ánh sáng, âm thanh và sau nữa là hoang tưởng tự cao hoặc hoang tưởng bị người khác làm hại.

LÊ THOA - NGUYỄN TÂN

 
JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL

Hỗ trợ trực tuyến

Lại Văn Anh

Số lượt truy cập

cai nghien ma tuy, trung tam cai nghien ma tuy, tu van cai nghien ma tuycai nghien ma tuy, trung tam cai nghien ma tuy, tu van cai nghien ma tuycai nghien ma tuy, trung tam cai nghien ma tuy, tu van cai nghien ma tuycai nghien ma tuy, trung tam cai nghien ma tuy, tu van cai nghien ma tuycai nghien ma tuy, trung tam cai nghien ma tuy, tu van cai nghien ma tuycai nghien ma tuy, trung tam cai nghien ma tuy, tu van cai nghien ma tuycai nghien ma tuy, trung tam cai nghien ma tuy, tu van cai nghien ma tuycai nghien ma tuy, trung tam cai nghien ma tuy, tu van cai nghien ma tuy
mod_vvisit_counterToday1103
mod_vvisit_counterYesterday1445
mod_vvisit_counterThis week6192
mod_vvisit_counterThis month22147
mod_vvisit_counterAll2370206