Đọc sách cùng trung tâm

Đa dạng hóa công tác cai nghiện

Trong những năm qua, song song với việc đưa người nghiện đi cai bắt buộc tập trung tại các Trung tâm cai nghiện, các cơ sở cai nghiện bắt buộc đã mở rộng việc tiếp nhận người nghiện vào cai tự nguyện với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm.

Rèn luyện sức khỏe cho người cai nghiện- Ảnh internet

Kinh phí thuốc cắt cơn, phục hồi sức khỏe và ăn uống, sinh hoạt hàng ngày do các học viên hoặc gia đình chịu trách nhiệm. Nhà nước hỗ trợ các chi phí cần thiết còn lại, kể cả tiền lương cán bộ, nhân viên Trung tâm và khấu hao cơ sở vật chất cùng số tiền điện, nước không nhỏ cho sinh hoạt hàng ngày của các học viên.

Công tác cai nghiện tại gia đình, cộng đồng ở nhiều địa phương đã được các cấp ủy, chính quyền quan tâm chỉ đạo và triển khai thực hiện. Tuy nhiên số người nghiện được cai hàng năm, cả đi cai bắt buộc và cai tự nguyện mới chiếm khoảng 20-25% tổng số người nghiện có hồ sơ quản lý.

Hiện nay, cả nước có 142 cơ sở cai nghiện ma túy, trong đó: 82 cơ sở cai nghiện ma túy đa chức năng (gồm cả chức năng cai nghiện bắt buộc), 41 cơ sở cơ sở điều trị nghiện ma túy tự nguyện do ngành Lao động-Thương binh và Xã hội quản lý và 19 cơ sở cai nghiện do tư nhân thành lập. Tổng công suất vào khoảng 50.000-60.000 người nhưng hầu như các Trung tâm hiện nay chỉ đạt tỷ lệ sử dụng công suất từ 20-30%. Nhiều Trung tâm hiện nay rơi vào tình trạng có số cán bộ bằng, hoặc thậm chí nhiều hơn cả số học viên cai nghiện.

Hiện trạng trên đây một phần do khó khăn, phức tạp khi chuyển từ quy định đưa người nghiện đi cai bằng quyết định hành chính lâu nay của Ủy ban nhân dân cấp huyện sang quyết định của Tòa án nhân dân cấp huyện theo Luật Xử lý vi phạm hành chính mới được ban hành.

Mặt khác nhiều nơi thủ tục nhận người đi cai tự nguyện ở các Trung tâm cai nghiện còn nhiêu khê, rườm rà cũng không khích lệ người nghiện đi cai tự nguyện. Các cơ sở cai nghiện tư nhân còn ít ỏi và có quy mô nhỏ bé trong khi người nghiện có nguyện vọng đi cai nghiện tại các cơ sở không phải của Nhà nước khá cao.

Thực tế một số cơ sở tư nhân chủ yếu mang tính kinh doanh nên chỉ nặng về cắt cơn giải độc 10 ngày, nửa tháng là kết thúc quy trình gọi là cai nghiện nên không có hiệu quả.

Về điều trị nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Methadone, hiện có 55/63 tỉnh, thành phố triển khai điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone, với 220 cơ sở, tăng 87 cơ sở so với cuối năm 2014.

Số người hiện đang điều trị bằng liệu pháp Methadone đạt trên 40.000 người nhưng sắp tới khi chúng ta không còn nguồn tài trợ của Quốc tế về chương trình này thì việc duy trì hoạt động lâu dài của các cơ sở Methadone sẽ là bài toán phức tạp cần được tính toán kỹ.

 Để đẩy mạnh công tác cai nghiện trong thời gian tới, một giải pháp rất  quan trọng là cần đẩy nhanh quá trình chuyển đổi công năng các Trung tâm cai nghiện tập trung hiện nay sang dạng đa năng, không chỉ bó hẹp trong nhiệm vụ chỉ cai bắt buộc như lâu nay, nhất là  đối với các tỉnh còn nghèo và số người nghiện không nhiều. Hoạt động của Trung tâm cần theo hình thức “mở” tương tự như các bệnh viện nhận bệnh nhân vào chữa trị với môi trường thân thiện, hấp dẫn, tận tình và chu đáo.

Đồng thời tăng cường tính tự chủ và tự hạch toán của các Trung tâm để đỡ phần nào gánh nặng kinh phí Nhà nước trong hoạt động các Trung tâm. Khuyến khích người nghiện đi cai tự nguyện cả ở các cơ sở tư nhân và Trung tâm nhà nước cũng như cai tại gia đình, cộng đồng. Với các cơ sở cai nghiện tư nhân, cần nghiên cứu chuyển từ phương thức cấp Giấy phép hoạt động cai nghiện như hiện nay sang hình thức cấp Đăng ký cơ sở cai nghiện khi đủ các điều kiện theo quy định và giao các địa phương chịu trách nhiệm quản lý.

Ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, nên chăng xem xét áp dụng mô hình các cơ sở, Trung tâm cai nghiện liên xã, liên huyện như các tỉnh Tuyên Quang, Sơn La, Lao Cai, Thái Nguyên vẫn làm lâu nay.

Cần có các chính sách hỗ trợ hoạt động cai nghiện tại gia đình và cộng đồng cho cả người cai nghiện và cả gia đình, cộng đồng khi tham gia hoạt động này. Hiện nay các chế độ và kinh phí cho công tác cai nghiện tại cộng đồng còn rất hạn chế, mới chỉ đáp ứng một phần cho giai đoạn cắt cơn, giải độc; các chế độ hỗ trợ cho người cai nghiện về tiền thuốc, chi phí học nghề, tư vấn, tạo việc làm cỏn rất hạn hẹp, thường chỉ áp dụng cho gia đình chính sách, người có công, hộ nghèo nên hầu như rất ít người được trợ giúp; các địa phương chưa thực sự quan tâm chỉ đạo, quản lý và hỗ trợ kinh phí hoạt động cho các câu lạc bộ hoặc nhóm tự lực sau cai.

Theo hiv.com.vn 

 

Nguồn tài trợ cắt giảm, cán bộ y tế và bệnh nhân HIV/AIDS đều lo lắng

Được xem là nguồn bảo đảm để người nhiễm HIV/AIDS có thể tiếp cận được với các dịch vụ và thuốc ARV một cách bền vững, nhất khi các nguồn lực tài trợ điều trị HIV/AIDS bị cắt giảm. Tuy nhiên, việc triển khai bảo hiểm y tế cho người nhiễm HIV/AIDS vẫn còn nhiều khó khăn, bất cập.

Đó là đánh giá của các đại biểu tại Hội thảo Đối thoại chính sách về Bảo hiểm y tế cho người nhiễm HIV và chia sẻ kinh nghiệm hoạt động phòng chống HIV/AIDS do Ban quản lý dự án VUSTA phối hợp với Cục Phòng, chống HIV/AIDS (Bộ Y tế) tổ chức ngày 27/6.

 

Toàn cảnh Hội thảo. Ảnh Thùy Chi

"Phao cứu sinh" cho người nhiễm HIV/AIDS

Bảo hiểm y tế được xem là “phao cứu sinh” giúp bệnh nhân bị nhiễm HIV/AIDS giảm bớt chi phí trong điều trị, duy trì sự sống, đặc biệt là khi các nguồn lực hỗ trợ điều trị HIV/AIDS đều dựa vào nguồn tài trợ từ các dự án quốc tế, nhưng sắp tới đây các nguồn hỗ trợ này sẽ chấm dứt. Bởi nếu bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS không được BHYT chi trả là một điều vô cùng khó khăn.

Đa phần các bệnh nhân AIDS đều nằm trong đối tượng nghèo và cận nghèo, không có tiền mua thuốc hoặc thanh toán các chi phí liên quan đến điều trị, trong khi các bệnh nhân HIV khi đã chuyển sang giai đoạn AIDS thì thường xuyên mắc các bệnh nhiễm trùng cơ hội cần phải điều trị nên chi phí dành cho điều trị tăng. Đối với các bệnh nhân nhiễm HIV ngay cả khi chưa chuyển sang giai đoạn AIDS cũng phải luôn được khám, tầm soát phát hiện các bệnh nhiễm trùng cơ hội nên cần được thanh toán các chi phí liên quan đến các xét nghiệm phát hiện các bệnh nhiễm trùng cơ hội.

Ngoài ra, nếu bệnh nhân HIV/AIDS đăng ký, quản lý, khám chữa bệnh tại các phòng khám ngoại trú, bệnh nhân còn được điều trị dự phòng các bệnh nhiễm trùng cơ hội bằng thuốc Cotrimoxazole và thuốc INH để phòng lao, giúp bệnh nhân tránh được các bệnh nhiễm trùng cơ hội thường gặp như viêm phổi, lao.

Bên cạnh đó, theo Phó Cục trưởng Cục Phòng, chống HIV/AIDS Hoàng Đình Cảnh, việc người nhiễm HIV/AIDS phải bỏ chi phí ra mua thẻ bảo hiểm y tế sẽ khiến họ có trách nhiệm hơn trong việc tuân thủ đúng phác đồ điều trị. Như vậy, sẽ tránh được tình trạng bỏ điều trị và giảm nguy cơ nhờn thuốc cũng như bệnh nhân phải chuyển sang phác đồ điều trị khác, tốn kém hơn rất nhiều.

Khó khăn chồng chất với người nhiễm HIV

Theo Giám đốc Trung tâm Tư vấn pháp luật và chính sách về y tế, HIV/AIDS Trịnh Thị Lê Trâm, đa số người nhiễm HIV là người nghèo, có nhiều gia đình, vợ chồng và các con của họ đều bị nhiễm HIV. Họ thường không có việc làm hoặc việc làm không ổn định, nhiều gia đình chỉ có một người đi làm nhưng phải nuôi cả nhà. Nhưng do sức khỏe yếu nên thường xuyên phải điều trị ARV, điều trị nhiễm trùng cơ hội rất cần bảo hiểm y tế nhưng lại không đủ tiền mua thẻ bảo hiểm y tế cho bản thân và gia đình.

Theo bà Trâm, dù Luật Bảo hiểm y tế đã có quy định hộ cận nghèo được miễn 50% tiền mua bảo hiểm y tế, hộ nghèo được cấp thẻ bảo hiểm miễn phí. Nhưng theo quy định việc xác định hộ nghèo đa chiều như hiện nay, được công nhận hộ gia đình nghèo để được cấp thẻ bảo hiểm y tế là hết sức khó khăn. Chưa kể đến những khó khăn về thủ tục trong quá trình cấp thẻ bảo hiểm y tế.

Trưởng đại diện Mạng lưới quốc gia những người sống với HIV/AIDS của Việt Nam (VNP+) Đỗ Đăng Đông cho biết, hiện có rất nhiều người nhiễm HIV sau khi ra khỏi các trung tâm giáo dục chưa bệnh không dám về quê vì sợ bi kỳ thị hoặc đi hành nghề tại các địa phương khác, họ không đăng ký tạm trú hoặc thường trú nên đã không đủ điều kiện để được tham gia bảo hiểm y tế. Hoặc trường hợp trẻ em nhiễm HIV sinh ở nước ngoài vì mẹ bị nạn buôn bán phụ nữ qua biên giới, hoặc lấy chồng nước ngoài nay trở về Việt Nam không làm thủ tục khai sinh được vì không có giấy chứng sinh sẽ không tham gia được bảo hiểm y tế…

Ngoài ra, những hạn chế về chính sách cũng gây khó khăn không ít. Thực hiện Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi, Bộ Y tế ban hành Thông tư số 40 về danh mục thuốc tân dược thuộc phạm vi tham toán của Bảo hiểm y tế. Tuy nhiên, riêng đối với các thuốc quy định tỷ lệ thanh toán thì có 25 thuốc đắt tiền, chủ yếu là thuốc điều trị ung thư, bệnh nhân sẽ đồng chi trả 50%. Trong khi rất nhiều người nhiễm HIV, khi chuyển sang giai đoạn AIDS thường mắc các bệnh về ung thư. Từ ngày 1.1.2015 khi mắc bệnh ung thư họ phải đồng chi trả 50% bảo hiểm y tế khi dùng thuốc đắt tiền để điều trị ung thư, đây là một gánh nặng vô cùng khó khăn cho người nhiễm HIV.

Chia sẻ những khó khăn về kinh tế khi thực hiện quy định Thông tư 40, anh Nguyễn Văn Thắng (Gia Lâm, Hà Nội) cho biết, bị ung thư phổi sau khi chuyển sang giai đoạn AIDS nên buộc phải dùng thuốc để ngăn ngừa các tế bào ung thư phát triển. Song loại thuốc anh đang dùng có giá tới 1.350.000 đồng/viên, mỗi ngày uống 1 viên và không được bảo hiểm y tế chi trả 100% như trước mà anh phải cùng chi trả mỗi ngày gần 700.000 đồng tiền thuốc. Đây là khó khăn rất lớn cho anh và gia đình khi chưa có nguồn thu nhập ổn định.

Bảo hiểm y tế là chính sách an sinh xã hội quan trọng của nước ta, việc thực hiện chính sách này có ý nghĩa lớn đối với người nhiễm HIV/AIDS. Tuy nhiên, trong bối cảnh sự kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến HIV/AIDS vẫn còn nặng nề, việc thực hiện chính sách bảo hiểm y tế cần thuận lợi hơn cho người nhiễm HIV/AIDS, để không có đối tượng nào bị bỏ rơi trong giai đoạn chuyển giao thực hiện quy định của pháp luật.

Theo hiv.com.vn

 

Khuyến cáo về dự phòng, chăm sóc cho người lạm dụng ma túy

Mới đây, tại trụ sở Liên Hợp Quốc (LHQ) đã diễn ra phiên họp đặc biệt lần thứ 30 của Đại Hội đồng LHQ (UNGASS) để xem xét tiến độ thực hiện Tuyên bố Chính trị và Kế hoạch Hành động về Hợp tác Quốc tế hướng tới một Chiến lược Toàn diện và Cân bằng để đối phó với Vấn đề Ma túy Thế giới. Với mục tiêu giảm thiểu các tác hại, hậu quả của việc lạm dụng ma túy đối với sức khỏe công cộng và xã hội, Nghị quyết phiên họp đặc biệt LHQ đã đưa ra nhiều khuyến cáo cụ thể.

Thứ nhất về dự phòng lạm dụng ma túy, cần áp dụng các biện pháp dự phòng ban đầu thực tế và hiệu quả để bảo vệ mọi người, đặc biệt là trẻ em và thanh tiếu niên khỏi việc bắt đầu sử dụng ma túy bằng cách cung cấp cho họ những thông tin chính xác về nguy cơ lạm dụng ma túy, bằng cách thúc đẩy phát triển kỹ năng và cơ hội để lựa chọn lối sống lành mạnh, tăng cường sự hỗ trợ của cha mẹ, tạo môi trường xã hội an toàn, và bằng cách đảm bảo tiếp cận bình đẳng với giáo dục và đào tạo nghề.

Điều trị cho người nghiện tại Trung tâm. Ảnh internet

Ngoài ra, áp dụng các biện pháp thực tế và hiệu quả để dự phòng sự tiến triển của các rối loạn sử dụng ma túy nghiêm trọng thông qua các biện pháp can thiệp sớm nhắm đến mục tiêu thích hợp cho những người có nguy cơ như vậy;

Tăng tính sẵn có, độ bao phủ và chất lượng của các phương pháp  và công cụ dự phòng dựa trên bằng chứng khoa học, phù hợp với lứa tuổi và hướng đến nguy cơ ở các môi trường khác nhau, cả trong và ngoài trường học, thông qua các chương trình dự phòng lạm dụng ma túy và các chiến dịch nâng cao nhận thức cộng đồng, sử dụng internet, mạng xã hội và các diễn đàn trực tuyến khác, xây dựng và thực hiện các chương trình dự phòng và can thiệp sớm trong hệ thống giáo dục tại tất cả các cấp, cũng như trong đào tạo nghề, tại nơi làm việc, và nâng cao khả năng của giáo viên và chuyên gia khi cung cấp dịch vụ tư vấn, dự phòng và chăm sóc;

Thúc đẩy sự thịnh vượng của xã hội thông qua việc xây dựng các chiến lược dự phòng hiệu quả dựa trên bằng chứng khoa học tập trung và tủy chỉnh theo nhu cầu của cá nhân, gia đình và cộng đồng như là một phần của chính sách ma túy quốc gia toàn diện và cân bằng trên cơ sở không phân biệt đối xử;

Nếu phù hợp và cần thiết, cần tăng sự tham gia của các nhà hoạch định chính sách, các nghị sỹ, nhà giáo dục, xã hội dân sự và cộng đồng nghiên cứu khoa học, các học giả, nhóm đích, các cá nhân đang trong giai đoạn phục hồi rối loạn sử dụng chất và nhóm đồng đẳng của họ, gia đình, những người phụ thuộc, cũng nhu Khu vực Tư vào sự phát triển của các chương trình dự phòng hướng đến nâng cao nhận thức xã hội về mức độ nguy hiểm và nguy cơ liên quan đến lạm dụng ma túy, và cần tăng cường sự tham gia của cha mẹ, nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc, giáo viên, nhóm đồng đẳng, chuyên gia y tế, cộng đồng tôn giáo, lãnh đạo cộng đồng, nhân viên xã hội, hiệp hội thể thao, chuyên gia truyền thông, ngành công nghiệp giải trí…vào việc thực hiện;  

Xem xét việc tăng cường hợp tác giữa cơ sở y tế công cộng, giáo dục và lực lượng hành pháp khi thực hiện các sáng kiến dự phòng;  

Phát triển và cải thiện các cơ sở vui chơi giải trí và cung cấp cho trẻ em và thanh thiếu niên các hoạt động thể thao, văn hóa đều đặn nhằm khuyến khích lối sống lành mạnh, bao gồm cải thiện và phục hồi các không gian công cộng, thúc đẩy trao đổi kinh nghiệm và các thực hành tốt trong lĩnh mực này để nâng cao hơn nữa các can thiệp dự phòng hiệu quả.

Đẩy mạnh và nâng cao việc thu thập có hệ thống các thông tin và bằng chứng, cũng nhu chia sẻ ở cấp quốc gia và quốc tế những dữ liệu đáng tin cậy và có thể  so sánh về việc sử dụng ma túy và dịch tễ học, các yếu tố xã hội, kinh tế và các nguy cơ khác; thông qua Ủy ban về ma túy (CND) và Hội đồng Y tế thế giới, tăng cường việc áp dụng các tiêu chuẩn được quốc tế công nhận như “Tiêu chuẩn quốc tế về dự phòng sử dụng ma túy”, và chia sẻ về các thực hành tốt nhất, xây dựng chiến lược và chương trình dự phòng sử dụng ma túy hiệu quả kết hợp với Văn phòng Liên Hợp Quốc về Ma túy và Tội phạm, Tổ chức Y tế Thế giới và các tổ chức khác có liên quan trong Liên Hợp Quốc;

Tiếp đến là điều trị rối loạn sử dụng chất, phục hồi chức năng, hồi phục và tái hòa nhập xã hội; dự phòng, điều trị, và chăm sóc HIV/AIDS, viêm gan siêu vi và các bệnh lây truyền qua đường máu khác.

Cần thừa nhận tình trạng lệ thuộc ma túy là một rối loạn y tế đa nhân tố, được phân loại dựa trên bản chất mãn tính và tái phát, có nguyên nhân và hậu quả xã hội, có thể dự phòng và điều trị thông qua các chương trình điều trị, chăm sóc và phục hồi hiệu quả dựa trên bằng chứng, như các chương trình dựa vào cộng đồng, và đẩy mạnh phục hồi chức năng, tái hòa nhập xã hội và phục hồi của những người có tình trạng lệ thuộc ma túy, bao gồm tái hòa nhập thị trường lao động và các dịch vụ hỗ trợ khác.

Khuyến khích sự tham gia tự nguyện của các cá nhân có rối loạn sử dụng chất vào chương trình điều trị, có sự đồng ý của bệnh nhân, phù hợp với luật pháp quốc gia, phát triển và thực hiện các chương trình và chiến dịch tiếp cận, có sự tham gia của những người sử dụng đã phục hồi, để chống sự lề hóa xã hội và thúc đẩy thái độ không kỳ thị, đồng thời khuyến khích người sử dụng ma túy tìm kiếm điều trị và chăm sóc, tạo điều kiện để họ tham gia điều trị và tăng cường năng lực;

Thúc đẩy và tăng cường hợp tác khu vưc và quốc tế trong phát triển và thực hiện các sáng kiến liên quan đến điều trị, tăng cường hỗ trợ kỹ thuật và nâng cao năng lực, đảm đảm việc tiếp cận không phân biệt đối xử trong một loạt các can thiệp, bao gồm điều trị tâm lý xã hội, thay đổi hành vi và điều trị bằng thuốc hỗ trợ sao cho phù hợp với luật pháp quốc gia, đồng thời các chương trình phục hồi chức năng, tái hòa nhập xã hội và hỗ trợ phục hồi, bao gồm tiếp cận các dịch này trong tù và sau khi ra tù cần quan tâm đặc biệt đến nhu cầu đặc biệt của phụ nữ, trẻ em và thanh thiếu niên;

Xây dựng và củng cố, khi thích hợp, năng lực của cán bộ y tế, nhân viên xã hội, lực lượng hành pháp và tư pháp nhằm phối hợp (trong phạm vi công việc của họ) để triển khai các ứng phó toàn diện, tích hợp và cân bằng đối với các trường lợp lạm dụng và rối loạn sử dụng chất tại tất cả các cấp chính quyền;  

Thúc đẩy việc đưa dự phòng và xử trí sốc thuốc vào các chính sách ma túy quốc gia sao cho phù hợp với pháp luật quốc gia, đặc biệt là quá liều các chất dạng thuốc phiện, bao gồm việc sử dụng chất đối kháng thụ thể các chất dạng thuốc phiện như naloxone để giảm tỷ lệ tử vong do ma túy;

Thúc đẩy hợp tác và hỗ trợ kỹ thuật với các quốc gia bị ảnh hưởng bởi việc trung chuyển ma túy trong việc xây dựng và triển khai các chính sách toàn diện và tích hợp nhằm giải quyết các ảnh hưởng của việc buôn bán ma túy trái phép đối với việc sử dụng ma túy đang gia tăng tại các nước này, bao gồm việc tăng cường các chương trình quốc gia hướng tới dự phòng, can thiệp sớm, điều trị, chăm sóc, phục hồi và tái hòa nhập cộng đồng;

Dựa trên luật pháp quốc gia và ba công ước quốc tế về kiểm soát ma túy, mời các cơ quan nhà nước liên quan để xem xét, các phương pháp và chương trình quốc gia về dự phòng, điều trị, chăm sóc, hồi phục, phục hồi chức năng và tái hòa nhập xã hội, trong bối cảnh các nỗ lực nhằm giảm cầu toàn diện và cân bằng, các phương pháp hiệu quả hướng đến giảm thiểu tác hại, hậu quả của việc sử dụng ma túy đến sức khỏe công cộng và xã hội, bao gồm các chương trình điều trị bằng thuốc phù hợp, các chương trình cung cấp dụng cụ tiêm chích, cũng như điều trị kháng virus và các can thiệp liên quan khác nhằm dự phòng lây truyền HIV, viêm gan siêu vi và các bệnh lây truyền qua đường máu khác liên quan đến việc sử dụng ma túy, đồng thời xem xét việc đảm bảo tiếp cận được các dịch vụ này bao gồm dịch vụ tiếp cận cộng đồng và điều trị, dịch vụ trong tù hoặc nơi giam giữ, và thúc đẩy việc áp dụng Hướng dẫn kỹ thuật cho các Quốc gia về Thiết lập Mục tiêu tiếp cận phổ cập dự phòng, điều trị, chăm sóc HIV cho người tiêm chích ma túy do WHO, UNODC và UNAIDS thực hiện;

Thúc đẩy và triển khai thực hiện các tiêu chuẩn về điều trị rối loạn sử dụng ma túy do Văn phòng Liên hợp quốc về Tội phạm và Ma túy và Tổ chức Y tế thế giới xây dựng và các tiêu chuẩn quốc tế khác liên quan khi cần thiết và phải dựa trên luật pháp quốc gia và các công ước quốc tế về kiểm soát ma túy, và cung cấp hướng dẫn, hỗ trợ và tập huấn cho cán bộ y tế về việc sử dụng chúng sao cho thích hợp, và xem xét xây dựng các tiêu chuẩn và công nhận dịch vụ ở cấp quốc gia để đảm bảo các hoạt động thực hiện phải được công nhận chất lượng và dựa trên bằng chứng khoa học.

Tăng cường sự tham gia có ý nghĩa và hỗ trợ, tập huấn cho các tổ chức xã hội dân sự và các tổ chức liên quan như y tế, các dịch vụ điều trị xã hội đảm bảo phù hợp với luật pháp quốc gia, và trong khuôn khổ tích hợp và phối hợp với chính sách ma túy quốc gia, khuyến khích các nỗ lực của xã hội dân sự và Khu vực tu trong việc phát triển mạng lưới hỗ trợdự phòng, điều trị, chăm sóc, phục hồi và tái hoài nhập xã hội một cách cân bằng và toàn diện;

Khuyến khích Văn phòng LHQ về Ma túy và Tội phạm và Hội đồng Kiếm soát ma túy Quốc tế tăng cường hợp tác với Tổ chức Y tế thế giới và các cơ quan LHQ liên quan trong khuôn khổ nhiệm vụ của họ để tăng cường các biện pháp về y tế và phúc lợi xã hội trong giải quyết vấn đề ma túy thế giới, bao gồm dự phòng, can thiệp sớm, điều trị, chăm sóc, phục hồi, và hòa nhập xã hội hiệu quả, cùng hợp tác với xã hội dân sự và cộng đồng nghiên cứu khoa học, và cập nhật cho Uỷ ban về ma túy kịp thời, thích hợp.

Lê Văn Khánh (Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội, Bộ LĐTBXH)

 

 

Lời khuyên cho người nhiễm HIV khi tham gia BHYT

Với người nhiễm HIV, nguy cơ ốm đau nhiều hơn người khác và điều trị bằng thuốc kháng virus ARV là liên tục và suốt đời. Trong thời gian tới, do không còn thuốc viện trợ cấp miễn phí, vì vậy Quỹ Bảo hiểm Y tế (BHYT) sẽ thanh toán tiền thuốc ARV cũng như các chi phí khám và điều trị bệnh.

Việc người nhiễm HIV có thẻ BHYT khi khám chữa bệnh không làm thay đổi quy định này - Ảnh minh họa

Mọi người đều cần tham gia BHYT

BHYT luôn là một trong những giải pháp tài chính bền vững trong chăm sóc sức khỏe cho người dân ở tất cả các quốc gia trên thế giới. BHYT giúp giảm gánh nặng tài chính cho người tham gia bảo hiểm khi không may bị ốm đau, bệnh tật, tai nạn… phải điều trị.

Chi phí cho việc điều trị một số bệnh có thể lên tới hàng chục, thậm chí hàng trăm triệu đồng, vượt quá khả năng chi trả của hầu hết người bệnh và trở thành gánh nặng cho cả gia đình. Với lộ trình dịch vụ y tế tiến dần tới tính đúng, tính đủ thì chắc chắn chi trả viện phí khám và chữa bệnh sẽ còn lớn hơn.

Nếu không tham gia BHYT, người nhiễm HIV rất khó có đủ khả năng chi trả. Các chuyên gia ước tính một người nhiễm HIV khi điều trị bằng thuốc ARV thì quỹ BHYT phải chi trả khoảng 6-13 triệu đồng/người/năm cho tiền thuốc ARV và các chi phí xét nghiệm, thuốc nhiễm trùng cơ hội… Chưa kể các chi phí khám chữa bệnh khác vì ai cũng có thể ốm đau và bệnh tật.  

Người nhiễm HIV nên khám chữa bệnh ban đầu tại tuyến huyện

Theo quy định người dân nói chung và người nhiễm HIV, có thể đăng ký khám chữa bệnh ban đầu đầu tại trạm y tế xã, trạm y tế  quân dân y hay Trung tâm Y tế huyện có khám chữa bệnh, phòng khám đa khoa khu vực, các bệnh viện đa khoa tuyến huyện… Tuy nhiên, người nhiễm HIV nên đăng ký khám chữa bệnh ban đầu tại các bệnh viện huyện có khám và điều trị HIV/AIDS (có điều trị bằng ARV).

Việc này sẽ mang lại những lợi ích sau: Điều trị bằng thuốc ARV là liên tục và suốt đời, do vậy người nhiễm HIV sẽ dễ dàng đến các cơ sở y tế này để khám và điều trị HIV/AIDS; Thuận tiện hơn, không cần phải giấy chuyển tuyến. Mặc dù, người nhiễm HIV vẫn có thể đăng ký điều trị bằng thuốc ARV tại các cơ sở điều trị HIV/AIDS tuyến trên nhưng nếu không đúng tuyến thì mỗi năm vẫn cần giấy giới thiệu chuyển tuyến một lần; Kết hợp để khám và điều trị các bệnh khác. Bệnh viện đa khoa huyện có thể cung cấp hầu hết các dịch vụ kỹ thuật khám chữa bệnh phổ biến, do vậy người nhiễm HIV có thể kết hợp khi khám chữa các bệnh khác.

Hiện nay, Bộ Y tế cũng đã có hướng dẫn: Trường hợp có nhu cầu, người tham gia bảo hiểm nhiễm HIV được đăng ký khám bệnh, chữa bệnh BHYT ban đầu tại một trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh BHYT ban đầu có khám bệnh, chữa bệnh HIV/AIDS trong địa bàn cấp huyện, cấp tỉnh. Như vậy rất thuận lợi cho người nhiễm HIV. Việc thay đổi nơi khám chữa bệnh ban đầu theo quy định của Luật BHYT cũng có thể được thực hiện vào đầu mỗi quý.

Thuốc ARV do BHYT cấp hay thuốc viện trợ là giống nhau

Nhiều người lo lắng và cho rằng thuốc do BHYT mua sẽ là thuốc rẻ hoặc không tốt bằng các nguồn thuốc ARV khác hay thuốc viện trợ. Điều này không đúng vì thuốc ARV dù nguồn viện trợ hay do nguồn BHYT chi trả cũng đều là do Bộ Y tế mua và điều phối. Do vậy thuốc sẽ  là giống nhau. Có chăng sự khác nhau chỉ là BHYT hay các tổ chức quốc tế chi trả tiền mua thuốc này thôi.

Người tham gia khám, chữa bệnh bằng BHYT không ảnh hưởng đến bí mật thông tin cá nhân hoặc gia tăng kỳ thị phân biệt đối xử. Vì bảo mật thông tin cá nhân người bệnh nói chung và người nhiễm HIV nói riêng đã được quy định bởi Luật khám chữa bệnh và các quy định pháp luật khác.

Việc người nhiễm HIV có thẻ BHYT khi khám chữa bệnh không làm thay đổi quy định này. Chỉ có người nhiễm HIV và thày thuốc mới biết được tình trạng nhiễm HIV, do vậy không ảnh hưởng đến lộ thông tin cá nhân hay tình trạng nhiễm HIV của một bệnh nhân.

Khám chữa bệnh bằng BHYT cũng không làm gia tăng kỳ thị và phân biệt đối xử. Khi người nhiễm HIV đến khám tại các phòng khám bệnh sẽ hòa chung và quy trình khám chữa bệnh chung của phòng khám như mọi bệnh nhân khác, không ai biết được một người nhiễm HIV dựa trên quy trình chung này. Do vậy không thể làm gia tăng việc kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV mà chính là giúp người nhiễm HIV hòa nhập cộng đồng, coi HIV như một bệnh truyền nhiễm khác, giảm kỳ thị phân biệt đối xử.

Lao động ngoại tỉnh có thể tham gia BHYT

Nhiều người nhiễm HIV đi lao động làm ăn xa nhà nên cho rằng không tham gia BHYT được. Tuy nhiên, họ hoàn toàn vẫn có thể tham gia BHYT được với các lựa chọn sau: Đăng ký tạm trú tại cơ quan công an nơi đang tạm trú để lao động và có thể tham gia BHYT bình thường theo Luật bảo hiểm y tế hiện hành; Tham gia bảo hiểm y tế tại quê nhà nơi có hộ khẩu thường trú và theo quy định hiện nay đã thông tuyến khám chữa bệnh đến tuyến huyện.  Do vậy, người nhiễm HIV vẫn có thể sử dụng thẻ để khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế nơi lao động tương đương với tuyến của nơi ghi trên thẻ BHYT hoặc cơ sở y tế khác nếu không có cơ sở tương đương.

Theo hiv.com.vn

 

Kéo dài thời gian thí điểm tín dụng đối với người nhiễm HIV, người sau cai nghiện

Thủ tướng Chính phủ đồng ý kéo dài thời gian thí điểm thực hiện Quyết định số 29/2014/QĐ-TTg ngày 26/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ về tín dụng đối với hộ gia đình và người nhiễm HIV, người sau cai nghiện ma túy, người điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, người bán dâm hoàn lương đến hết ngày 31/12/2017.

Ảnh minh họa

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu hết thời gian thí điểm sơ kết, đánh giá rút kinh nghiệm để từ năm 2018 triển khai mở rộng trên phạm vi cả nước.

Về nguồn vốn để cho vay, đối với năm 2016, ngân sách Trung ương cấp 15 tỷ đồng, Ngân hàng Chính sách xã hội huy động thêm 15 tỷ đồng để cho vay. Trong thời gian chưa bố trí được nguồn vốn từ ngân sách Trung ương, Ngân hàng Chính sách xã hội tự cân đối từ nguồn vốn huy động được giao trong chỉ tiêu kế hoạch nguồn vốn năm 2016 để cho vay theo quy định.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính bố trí vốn từ ngân sách Trung ương để hoàn trả ngân hàng Chính sách xã hội khi Chương trình được bố trí vốn; Ngân sách Trung ương cấp bù chênh lệch lãi suất cho Ngân hàng Chính sách xã hội theo quy định.

Đối với năm 2017, Ngân hàng Chính sách Xã hội có trách nhiệm tổng hợp nhu cầu, xác định quy mô trình cấp có thẩm quyền; Ngân sách Trung ương cấp 50% trên tổng số kế hoạch nguồn vốn cho vay cho Ngân hàng Chính sách xã hội, 50% còn lại do Ngân hàng Chính sách xã hội huy động. Ngân sách Trung ương cấp bù chênh lệch lãi suất cho Ngân hàng Chính sách xã hội theo quy định.

Trước đó, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số 29/2014/QĐ-TTg nhằm tạo điều kiện cho các hộ gia đình và người nhiễm HIV, người sau cai nghiện ma túy, người điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, người bán dâm hoàn lương được vay vốn ưu đãi.

Đối tượng được vay vốn là cá nhân gồm: Người nhiễm HIV, người điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, người bán dâm hoàn lương.

Đối với hộ gia đình vay vốn, là hộ gia đình có thành viên thuộc một trong các trường hợp: Người nhiễm HIV/AIDS, người sau cai nghiện ma túy, người điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, người bán dâm hoàn lương.

Các cá nhân, hộ gia đình chỉ được vay vốn nhằm mục đích mua sắm các loại vật tư, vật nuôi, thức ăn gia súc gia cầm, công cụ lao động, hàng hóa, phương tiện phục vụ kinh doanh, buôn bán; đầu tư làm các nghề thủ công trong hộ gia đình như: Mua nguyên vật liệu sản xuất, công cụ lao động, máy móc, thiết bị; góp vốn thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh với cá nhân, tổ chức khác.

Theo hiv.com.vn

 

 

Phát hiện “gót chân Asin” của virút HIV

Nhóm nghiên cứu thuộc Viện Sức khỏe quốc gia Mỹ vừa tìm ra điểm yếu mới của virút HIV, mở đường cho nghiên cứu văcxin phòng chống virút này. Theo Futurism, phát hiện đột phá này có được khi nhóm nghiên cứu xem xét loại kháng thể đặc biệt của một bệnh nhân nhiễm virút HIV có khả năng đeo bám virút HIV và ngăn không cho lây nhiễm sang tế bào.

Virút HIV trong máu - Ảnh: Avert

Cụ thể, nhóm nghiên cứu đã tìm ra điểm yếu của virút HIV, đó là loại protein có tên peptit dung hợp (fusion peptide), có cấu trúc đơn giản gồm 8 amino acid giúp virút hòa lẫn vào với tế bào cơ thể.

Nhóm nghiên cứu đã dùng kháng thể có tên VRC34.01 lấy được từ máu của bệnh nhân nhiễm virút HIV dương tính để tấn công điểm yếu đó của virút.

Theo đó, loại kháng thể này không những có thể bám chặt lấy virút HIV thông qua peptit dung hợp mà còn ngăn không cho nó lây nhiễm sang toàn bộ tế bào. Nhóm nghiên cứu đã quan sát được quá trình ngăn cản này ở cấp độ phân tử.

Một điều thú vị nữa là nhóm nghiên cứu còn nhận thấy không chỉ một bệnh nhân có loại kháng thể đặc biệt. Sau khi xem xét các trường hợp nhiễm virút HIV dương tính khác, họ cũng thấy 10 trong số 24 mẫu máu cùng có những cơ chế bảo vệ tế bào giống như kháng thể VRC34.01.

Mặc dù mọi sự có vẻ rất nhiều hứa hẹn, nhưng các nhà khoa học sẽ cần tiến hành thêm các thí nghiệm để tìm ra những loại kháng thể có khả năng tương tự VRC34.01.

Virút HIV trong máu - Ảnh: Avert

Theo Futurism, phát hiện đột phá này có được khi nhóm nghiên cứu xem xét loại kháng thể đặc biệt của một bệnh nhân nhiễm virút HIV có khả năng đeo bám virút HIV và ngăn không cho lây nhiễm sang tế bào.

Cụ thể, nhóm nghiên cứu đã tìm ra điểm yếu của virút HIV, đó là loại protein có tên peptit dung hợp (fusion peptide), có cấu trúc đơn giản gồm 8 amino acid giúp virút hòa lẫn vào với tế bào cơ thể.

Nhóm nghiên cứu đã dùng kháng thể có tên VRC34.01 lấy được từ máu của bệnh nhân nhiễm virút HIV dương tính để tấn công điểm yếu đó của virút.

Theo đó, loại kháng thể này không những có thể bám chặt lấy virút HIV thông qua peptit dung hợp mà còn ngăn không cho nó lây nhiễm sang toàn bộ tế bào. Nhóm nghiên cứu đã quan sát được quá trình ngăn cản này ở cấp độ phân tử.

Một điều thú vị nữa là nhóm nghiên cứu còn nhận thấy không chỉ một bệnh nhân có loại kháng thể đặc biệt. Sau khi xem xét các trường hợp nhiễm virút HIV dương tính khác, họ cũng thấy 10 trong số 24 mẫu máu cùng có những cơ chế bảo vệ tế bào giống như kháng thể VRC34.01.

Mặc dù mọi sự có vẻ rất nhiều hứa hẹn, nhưng các nhà khoa học sẽ cần tiến hành thêm các thí nghiệm để tìm ra những loại kháng thể có khả năng tương tự VRC34.01.

Theo hiv.com.vn

 

 
JPAGE_CURRENT_OF_TOTAL

Hỗ trợ trực tuyến

Lại Văn Anh

Số lượt truy cập

cai nghien ma tuy, trung tam cai nghien ma tuy, tu van cai nghien ma tuycai nghien ma tuy, trung tam cai nghien ma tuy, tu van cai nghien ma tuycai nghien ma tuy, trung tam cai nghien ma tuy, tu van cai nghien ma tuycai nghien ma tuy, trung tam cai nghien ma tuy, tu van cai nghien ma tuycai nghien ma tuy, trung tam cai nghien ma tuy, tu van cai nghien ma tuycai nghien ma tuy, trung tam cai nghien ma tuy, tu van cai nghien ma tuycai nghien ma tuy, trung tam cai nghien ma tuy, tu van cai nghien ma tuycai nghien ma tuy, trung tam cai nghien ma tuy, tu van cai nghien ma tuy
mod_vvisit_counterToday8039
mod_vvisit_counterYesterday339
mod_vvisit_counterThis week8942
mod_vvisit_counterThis month12823
mod_vvisit_counterAll2535478